phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mở rộng cho vay DNNVV của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay DNNVV tại ngân hàng Kỹ Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long. Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Kỹ thƣơng Việt Nam-chi nhánh Thăng Long 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀVỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Căn cứ theo điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP: Điều 6. Tiêu chí ác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ 8 đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Ngày 2/6/2017 Quốc hội đã ban hành Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về tiêu chí ác định doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc quy định cụ thể tại điều 4: Điều 4. Tiêu chí ác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa đƣợc xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thƣơng mại và dịch vụ. Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc hƣởng rất nhiều hỗ trợ từ Chính phủ. 9 Có 8 loại hỗ trợ mà doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣơng nhiên sẽ nhận đƣợc từ phía Nhà nƣớc.
Đó là: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng sản xuất; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ƣơm tạo. cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trƣờng; hỗ trợ thông tin, tƣ vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, những doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh; doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị sẽ đƣợc hƣởng thêm nhiều hỗ trợ nữa từ phía nhà nƣớc. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị sẽ đƣợc cho vay, tài trợ bởi quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa do Thủ tƣớng Chính phủ thành lập.
Đặcđiểm củadoanhnghiệpnhỏvàvừa Năng lực tài chính hạn chế: Thực tế cho thấy nguồn lực tài chính của các DNVVN hầu hết đều hạn chế; hơn thế khả năng tiếp cận các nguồn vốn còn gặp nhiều khó khăn. Chúng ta đều biết tài chính của DNVVN xuất phát từ ba nguồn chính: vốn tự có, tín dụng thƣơng mại và các khoản vay từ các tổ chức tín dụng. Trong đó, tỉ lệ vốn tự có thƣờng rất thấp và không phải doanh nghiệp nào cũng duy trì đƣợc nguồn tín dụng thƣơng mại, khi đó, giải pháp của doanh nghiệp là vay vốn ngân hàng. Mặc dù có rất nhiều doanh nghiệp muốn tìm vốn bằng hình thức vay ngân hàng nhƣng hiện chỉ có hơn một nửa tiếp cận đƣợc nguồn vốn này do gặp điều kiện cho vay chặt chẽ về thủ tục và tài sản bảo đảm của các ngân hàng.
Trình độkỹ thuật, công nghệ thường đi sau so với DN lớn. Trên thực tế, năng lực tài chính của DNVVN còn hạn chế nên chi phí để đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến gặp nhiều khó khăn, có 10 nhiều trƣờng hợp mua phải dây chuyền công nghệ đã lỗi thời. Ngoài ra, các nhà quản lý cũng chƣa chú trọng đến việc đào tạo kiến thức và kĩ năng cho ngƣời lao động để tiếp cận với công nghệ mới nên hiệu quả sản xuất chƣa cao. Trình độ quản trị doanh nghiệp và trình độ lao động thấp: Phần lớn họ điều hành doanh nghiệp theo bản năng, ít đƣợc đào tạo bài bản và chƣa thực sự quan tâm đến việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp.
Hơn nữa, với một quy mô hoạt động nhỏ, chƣa có uy tín lớn, chế độ lƣơng và thƣởng của doanh nghiệp chƣa cạnh tranh nên DNVVN không thu hút đƣợc nhiều lao động có tay nghề. Khả năng cạnh tranh trên thị trường chưa cao: Do còn yếu kém về nhiều mặt, hạn chế về nguồn vốn, công nghệ chƣa tân tiến, khả năng lập phƣơng án kinh doanh chƣa thực sự hiệu quả nên chất lƣợng sản phẩm chƣa cao. Hơn nữa, các DNVVN chƣa quan tâm đúng mức đến hoạt động Marketing nhƣ truyền thông, quảng bá, giới thiệu sản phẩm dẫn đến khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng, phát triển thị trƣờng bị hạn chế. DNNVV góp phần làm tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập cho dân cư.
Nếu nhƣ Doanh nghiệp lớn thƣờng không xuất hiện ở các địa phƣơng nhỏ, khó khăn thì DNNVV lại có mặt ở khắp mọi nơi và trở thành nhân tố của tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu ngân sách địa phƣơng cũng nhƣ quốc gia. Ở Việt Nam, DNNVV cũng là nhân tố giảm đói nghèo, đặc biệt là khu vực nông thôn, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. DNNVV có bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản, nội bộ công ty không phức tạp nên dễ dàng trong quản lý, dễ thích ứng vời sự biến động, công tác quản lý thƣờng trực tiếp và có sự liên kết chặt chẽ giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động. 11 Năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với những thay đổi của thị trường : do tính chất quy mô, các DNNVV có thể chuyển hƣớng kinh doanh với tốc độ nhanh nhất phù hợp với những điều kiện của thị trƣờng mang tính chất địa phƣơng.
Điều này tạo điều kiện cho các DNNVV đa dạng hóa các mặt hàng, dịch vụ cung ứng, sẵn sàng đầu tƣ vào các lĩnh vực mới, những lĩnh vực có nhiều rủi ro. Có khả năng thu hồi vốn nhanh: Lƣợng vốn đầu tƣ ban đầu thấp, chu kỳ sản xuất thƣờng ngắn, nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh, hiệu quả kinh tế thƣờng sẽ cao hơn các doanh nghiệp lớn. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế quốc dân - Đóng góp vào việc tăng trƣởng GDP cho nền kinh tế và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế : Sự tăng trƣởng nhanh các DNNVV trên phƣơng diện chất lƣợng và số lƣợng góp phần đáng kể vào tăng trƣởng kinh tế và sự gia tăng thu nhập cho cả nƣớc. Do sự phân bố khắp các vùng miền của DNNVV, các DN này có thể tạo cơ hội việc làm cho nhiều vùng và nhiều đối tƣợng lao động khác nhau, đặc biệt là các đối tƣợng lao động có trình độ tay nghề thấp, vùng chƣa phát triển kinh tế, qua đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp đồng thời giảm phần nào số dân chuyển về các thành phố lớn làm việc.
- Tham gia tích cực vào hoạt động xuất khẩu: Trong những năm qua, DNNVV nhất là các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản đã chủ động tìm kiếm và khai thác thị trƣờng quốc tế dựa trên những ƣu thế về ngành nghề của mình. Số lƣợng DNNVV tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu chiếm 80,6% tổng số doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu trong cả nƣớc”. - Tăng việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động: 12 Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong nghành nghề kinh doanh, hơn nữa lại không đòi hỏi trình độ cao, DNNVV đã và đang thu hút rất nhiều lao động ở thành thị và nông thôn, từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động, cải thiện đời sống và hạn chế các tệ nạn xã hội khác. Các DNNVV cung cấp khoảng 51% khối lƣợng việc làm cho nền kinh tế.
- Tạo sự năng động, hiệu quả và góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Với lợi thế là tính linh hoạt và vốn tham gia tƣơng đối nhỏ, DNNVV có khả năng chuyển đổi mặt hàng, chuyển đổi hƣớng sản xuất, chuyển đổi công nghệ cho phù hợp với môi trƣờng kinh doanh.