phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cấu bao gồm 3 phản: Phần 1. Cơ sở xây dựng đề án. Nội dung của đề án. Các đề xuất và kiến nghị.
PHAN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VE CHIEN LUQC VÀ TRIÊN KHAI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIẾN LƯỢC VÀ TRIÊN KHAI CHIẾN LƯỢC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Chiến lược và các cấp chiến lược 1.
Khái niệm về chiến lược Về mặt lịch sử, chiến lược là một danh từ đề chỉ việc lên kế hoạch điều hànhmột cuộc chiến tranh. Xuất phát từ *Strategos -người chỉ huy quân sự” trong tiếng Hi Lạp cô, chiến lược được coi là “nghệ thuật của các vị tướng”. Gần đây hơn, với nhận thức về đặc điểm tiến hóa liên tục và đầy biến động của môi trường kinh doanh, khái niệm chiến lược đã được Fred David (2008) mở rộng theo hướng “Táp hợp quyết định và hành động cho phép dự đoán trước, hoặc ít nhất là dự báo được một tương lại có thé nhinthay truée nhung van cén day bat trắc và rủi ro”. Một cách tổng quát, Johnson & Scholes (1999) định nghĩa: “Chiến lược bao hàm việc dn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bố các nguôn lực thiết yếu đề thực hiện các mục tiêu dé”.
Tóm lại, chiến lược của một doanh nghiệp bao gồm những mục tiêu phải đạt tới trong đài han, sự đảm bảo về nguồn lực dé dat được những mục tiêu này và đồng thời xác định những cách thức, tiến trình hành động trong khi sử dụng những nguồn lực này. Do đó, chiến lược được hiểu như là một kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp. tổng quát định hướng sự phát triển va tạo lập lợi thé cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nguôn: Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Liệt, 2015 1.
Các cấp chiến lược Trong doanh nghiệp, các chiến lược thường được chia thành 3 cấp sau (Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Việt, 2015):Chiến lược cấp công ty (Corporate strategy), Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (Strategic Business Unit — SBU), Chiến lược cấp chức năng (Funetional stratezy). Trong đó, chiến lược cấp công ty (chiến lược tổng thể chiến lược chung) hướng tới các mục tiêu cơ bản đài hạn trong phạm vi của cả công ty. Ở cấp này, chiến lược phải trả lời được các câu hỏi: Các hoạt động nào có thể giúp công ty đạt được khả năng sinh lời cực đại, giúp công ty tồn tại và phát triển. Chiến lược cấp.
kinh doanh hay còn gọi là chiến lược cạnh tranh tập trung trả lời câu hỏi làm thể nào để doanh nghiệp cạnh tranh thành công trên thị trường với những sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Và cấp dưới cùng là chiến lược cấp chức năng gắn liền với các phận chức năng như sản xuất, marketing, tài chính, nhân lực.đẻ thực hiện được. chiến lược cấp kinh doanh và cấp công ty. Trong phạm vi nghiên cứu của Đề án này, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trang chiến lược cấp kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cô phần Hàng hải Việt Nam.
Quản trị chiến lược Quản trị chiến lược được định nghĩa là “một tập hợp các quyết định và hành động được thể hiện thông qua kết quả của việc hoạch định, thực thi và đánh giá các chiến lược, được thiết kế nhằm đạt được các mục tiêu đã để ra của một doanh nghiệp” (Fred David, 2008). Từ định nghĩa trên có thẻ thấy: Hoạch định - Thực Thi ~ Đánh Giá là ba hoạt động cơ bản của quá trình quản trị chiến lược nói chung và quản trị chiến lược kinh doanh nói riêng. Theo đó, Hoạch định chiến lược: Bao gồm hoạch định tầm nhìn và nhiệm vụ của doanh nghiệp; phân tích cơ hội và các mỗi đe dọa bên ngoài, đồng thời phân tích điểm mạnh và điểm yếu bên trong nội tại; thiết lập các mục tiêu dài hạn; hoạch định chiến lược và lựa chọn chiến lược. “Thực thi chiến lược: Quá trình triển khai chiến lược đã hoạch định, đòi hỏi nhà quản trị phải thiết lập các mục tiêu hàng năm, hoạch định các chính sách, phân bổ nguồn lực, xây dựng cơ cấu tô chức phù hợp, thúc đây văn hóa doanh nghiệp và quản lý nhân sự đê đảm bảo chiến lược được thực hiện hiệu quả.
Đánh giá chiến lược: Giai đoạn này bao gồm việc theo dõi, đánh giá tiền độ thực hiện chiến lược, xem xét lại các yếu tô bên trong và bên ngoài từ đó điều chỉnh và cải thiện chiến lược khi cần thiết để đảm bảo doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong phạm vi của Đề án tốt nghiệp nay, dé án tập trung nghiên cứu nội dung triển khai chiến lược trong doanh nghiệp bao gồm: Phân tích tinh thế chiến lược kinh doanh, quản trị các mục tiêu ngăn hạn, quản trị các chính sách trong triển khai chiến lược, phát huy văn hóa doanh nghiệp và tái cấu trúc tô chức trong triển khai chiến lược. Triển khai chiến lược kinh doanh Triển khai chiến lược là quá trình mang tính kỷ luật, tập hợp các hành động và quyết định cần thiết cho việc triển khai chiến lược (Phan Thanh Tú, 2019). Dé tiến hành triển khai chiến lược, các doanh nghiệp phải lên các ý tưởng từ trước; nói cách khác về bản chất, triển khai chiến lược là quá trình chuyên tiếp từ việc hoạch định chiến lược, biến các ý tưởng đã được lập kế hoạch thành các hành động cụ thể.
Theo Miller và Dess (1996), việc triển khai chiến lược bao gồm một loạt các nỗ lực tập trung vào việc chuyển đổi ý định chiến lược thành hành động. Theo một cách hiêu khác, triên khai chiến lược là chuỗi thành động thực thi các quyết định (Henry Mintzberg, 2009). Như vậy, néu chiến lược là một mô hình trong chuỗi các quyết định, triển khai chiến lược sẽ cho phép các chủ thê tạo ra mô. hình ra quyết định, đồng thời đồng nhất các lựa chọn hành động phục vụ cho mục.
tiêu chung của tổ chức. Nhu vay triển khai chiến lược là giai đoạn hành động của quản trị chiến lược. Triển khai chiến lược bao gồm những công việc nhằm làm cho chiến lược được thực hiện và đạt được mục tiêu định trước như kế hoạch đã định ra. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp cần phải tìm ra cái gì phải tiến hành đề chiến lược được thực.
hiện, triển khai thành công và đem lại kết quả cao. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam: "Ngắn hàng thương mại là một tổ chức được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật." Hay theo Dao luật ngân hàng của Pháp (1941): "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc đưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khdu, tin dụng và tài chính. " _Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với chức năng chính là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính đa dạng khác. Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ thanh toán.
mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, tiêu dùng. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá, hay phí thông qua các dịch vụ được cung cấp. Đặc điểm của ngân hàng thương mại a. Hoạt động chính « Nhận tiền gửi: Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi từ các cá nhân và tô chức, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi tiết kiệm.
« Cung cấp tín dụng: Ngân hàng cung cấp các khoản vay cho cá nhân và doanh nghiệp, bao gồm vay tiêu dùng, vay mua nhà, và vay kinh doanh. © Dịch vụ thanh toán: Ngân hàng thực hiện các giao dịch thanh toán qua chuyển khoản, séc, và các phương thức thanh toán điện tử. © Dịch vụ tài chính: Cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh, tư vấn tài chính, và dịch vụ ngoại hối. Nguôn vốn và tài sản © Nguồn vốn: Ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng và vốn chủ sở hữu đề tài trợ cho hoạt động cho vay và đầu tư.
« Tài sản: Tải sản của ngân hàng bao gồm các khoản vay cho khách hàng, chứng. khoán, tiền mặt, và tài sản có định. Quản lý rủi ro 10 © Rai ro tín dụng: Ngân hàng phải quản ly rủi ro tín dụng để đảm bảo rằng các khoản vay được hoàn trả đúng hạn. © Rui ro lai suất: Biến động lãi suất có thê ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng, vì vậy ngân hàng cần quản lý rủi ro lãi suất qua các công cụ tài chính.
«©_ Rủi ro thanh khoản: Ngân hàng cần duy trì đủ thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng và các nghĩa vụ tài chính khác. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ ® Khái niệm: Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ thanh toán. mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, tiêu dùng. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá, hay phí thông qua các dịch vụ được cung cấp.
Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” xuất phát từ gốc trong tiếng anh "Retail banking” được đưa vào sử dụng. Theo từ điển Ngân hàng và Tin học - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1996) thi “Retail banking~ hoạt động ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các địch vụ tài chính gồm cho vay trả dân, cho vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân”. Mặc dù khá mới mẻ, khái niệm này không hàm ý về một lĩnh vực hoạt động mới của ngân hàng. Dù ngân hàng có xác định hay không xác định trong kế hoạch kinh doanh thì các dịch vụ ngân hàng bán lẻ vẫn cứ nghiễm nhiên tồn tại.
Vậy “ngân hàng bán lẻ” là gi?