Chương răng I. HIEN TUONG LAP GHEP HAY LA HIEN TUONG TRÙNG LẬP DÒNG THƠ Hiện tượng trùng lặp trong ca dao là một trong số những hiện tượng dễ nhận thấy. Hơn ba chục năm về trước, trên Tạp chí Văn học số 10 năm 1968, PGS. Đăng Văn Luụng đã công bố bài viết Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình.
Những yếu tố đó thể hiện ở cấp độ từ ngữ, thậm chí ở cấp độ dòng thơ. Ví dụ: a) + Bao giờ cho đến tháng mười Lúa trổ bời bời nhà đủ người no. + Bao giờ cho đến tháng mười Thổi nôi cơm nếp uừa cười uừa ăn. Hai lời này có đòng đầu trùng lặp.
bì +_ Trên trời có đứm mây xanh Chính giữa mây trắng chung quanh mây vang Ới là tình phụ tình phàng 257 Thi phap ca dao Chữ là duyên chỉ lắm bấy Chit cdi da em trông chồng mà không thấy chồng đâu + Trên trời có đám mây xanh Ởgiữa mây trắng chung quanh mây uàng Hỏi anh đi dép quai ngang Thông thấy ngoài đàng em cũng muốn trông - Đất bồi mà bỏ xuống sông Tiếc cho anh ấy có công đợi chờ. + Trên trời có đám mây xanh Ở giữa mây trắng chung quanh mây 0uùng Ước gì anh lấy được nàng Thời anh mua gạch Bát Tràng uê xây Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân. Dòng đầu của ba lời ca dao giống hệt nhau. Dòng thứ hai của lời thứ nhất chỉ khác một tiếng (chính và ở) to với dòng thứ hai của lời thứ hai và lời thứ ba.
Về sự giống nhau trên, PGS. Chu Xuân Diên đ¿ giải thích bằng chính đặc điểm của quá trình sang tao ce dao, dân ca. Trong các cuộc hát đối đáp, hát thị, trong khi hát đáp lại đối phương, người hát vừa cần phải suy ngài để tìm nội dung cho sát, lại cần phải hát cho nhanh: do đó những tiếng như "mây xanh", "mây uàng" xét cho cùrg chỉ 258 Kết cấu có tác dụng đưa đẩy, bắt vần. Hơn nữa, nhiều câu miêu tả thiên nhiên đã có sẵn ở những lời ca dao khác.
Ngoài ra, có những câu không miêu tả thiên nhiên cũng được sử dụng lại. Lê Trường Phát, "chúng tựa như những "máng" đúc sẵn qua hàng ngàn cuộc hát. Người hát có thể và nhất thiết phải sử dụng lại những "mảng đúc chỉ việc "tháo", "lấp" chúng (có sửa đổi đôi chút nếu cí h) theo các kiểu cách khác nhau và đấy chính lại là lối tổ chức tác phẩm, lối cấu tứ riêng của ca dao". Đây là một lời ca dao quen thuộc: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống uườn cà, hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Báy giờ em đã có chồng Như chỉm uào lồng như cá cắn câu Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim uào lông biết thuở nao ra?” Đây là cuộc hát đối đáp nam nữ.
Lời chàng trai gồm bôn dòng. Có một dị bản mà ở đó, lời chàng trai gồm tám đồng như sau: () Lê Trường Phát (1991), Đáu là tấc lòng của tác giả dân gian bài ca dao “Trèo lên cây bười hái hoa", Báo Giáo dục uà thời đại, H, số 13, tr. (2) Bản do Chu Xuân Diên sử dụng trong Văn học 10, tập I, Nguyễn Lộc (Chủ biên, 1990), Nxb Giáo dục, H. 259 Thi phap ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống uườn cà, hái nụ tầm xuân Nu tam xuân nở ra xanh biếc Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Thoạt uào anh nắm cổ tay Sao trước em trắng mà rày em đen Hay là lấy phải chồng hèn Cơm sống canh mặn nó đen mất người." Bốn dòng sau của lời chàng trai phải chăng là kết quả của sự "tháo", "lắp" có sửa chữa đôi chút từ hai lời dưới đáy + Gặp em anh hỏi câu này Ngày xưa em trắng sao rày em đen? Hay em lấy phải chồng hèn Tham công tiếc uiệc nên đen thế này? + Gió đưa cành mận, gió lận cành đào Vì em anh phải ra uào tối tăm Tối tăm thì mặc tối tăm Chờ cho bác mẹ đi nằm sẽ hay Thoạt uào anh nắm cổ tay Xin em đừng hô hoán uiệc này nên to.
Sau khi khảo sát 1182 lời ca dao trong bộ sách Kho tàng ca dao người Việt (ban in nam 1995) của Nguyễn Xuân (1) Nguyễn Văn Ngọc (1928), Tục ngữ phong dao. 260 Kết cấu Kinh và Phan Đăng Nhật (đồng Chủ biên), Thạc sĩ Lê Văn Tach nhận điện được 2340 lời có sự trùng lặp dòng thơ." Trong 2240 lời này, loại một dòng trùng lặp xuất hiện 1382 lần, loại hai dòng: 812 lần, loại 3 dòng: 66 lần, loại 4 đong: 56 lần, loại õ đòng: 8 lần, loại 6 dòng: 16 lần, loại 7 dong: 10 lần, loại 8 dòng: 9 lần, loại 9 dòng: 4 lần, loại 10 đong: 9 lần, loại 11 dòng: 2 lần. Xét về vị trí trùng lặp, có 1896 lời (chiếm 85% tổng số lời ca đao có sự trùng lặp, chiếm 16% tổng số lời ca dao khảo sáU mà ở đó, sự trùng lặp diễn ra ở những dòng đầu của tác phẩm. Trong số 11825 lời ca dao được khảo sát, số lời có sự trùng lập chiếm 18,9%.
Như vậy, tuy trùng lặp là hiệ tượng đễ nhận thấy, là một trong những đặc điểm giúp nhà nghiên cứu phân biệt thơ trữ tình của dòng văn học viết và ca dao; nhưng có đến 81,1% số lời ca dao không có sự trùng lặp. Sự không trùng lặp diễn ra ở một trong hai (hoặc cả hai) loại trường hợp dưới đây: 1. Tác phẩm có cấu trúc nghệ thuật độc đáo, chặt chẽ, nếu "tháo đỡ" một mảng, một bộ phận thì bộ phận đó sẽ không có ý nghĩa như khi gắn kết trong chỉnh thể. Đó là trường hợp của lời: (1) Lê Van Tách (1999), Khảo sát những dòng thơ trùng lặp trong ca dao, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
261 Thi phap ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị uàng Nhị uàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Theo sự phân tích của PGS. Hoàng Tiến Tựu, "sự sắt đặt các hình tượng và từ ngữ" ở dòng thứ hai và dòng thú ba "chẳng những phản ánh được quá trình quan sát tv duy, cảm xúc và thể hiện, diễn đạt thành lời của tác gi: mà còn phần ánh được cä mô hình cấu trúc tổng quát củz mỗi cây sen"), Đó cũng là trường hợp của lời ca dao về người lính thú: Ngang lưng thì thắt bao uàng Đầu đội nón đấu uai mang súng dài Một tay thì cắp hoả mai Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyên nước mắt như mưa. Nhà phê bình Hoài Thanh đã chỉ ra con người giả vì con người thật của người lính thú thời xưa. Những lời thuộc những trường hợp trên dù biên độ lưu truyển có rộng khắp, dù được nhiều thế hệ ghi nhớ vi (1) Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật (đồng Chủ biên, 2001), Kh‹ tàng ca dao người Việt, tập II, Nxb Văn hoá - Thông tin, tr.
2417 (2) Hoàng Tiến Tựu (1992), Bình giảng ca dao, Nxb Giáo dục, H, tr. 262 Kết cấu rung cảm nhưng sẽ khó trở thành cơ sở để cấu tạo nên những lới trùng lặp.Ö loại trường hợp thứ hai, tác phẩm ca dao chỉ lưu truyền ở một địa phương: Đây chính là trường hợp của lời: Trên thì Dun, Mai, Ho, Khoai Dưới thì Lác, Tuộc, Dô, Giai, Sâm, Sàng Đô Kì, Đông Phó đổ sang Chiêng, Tè, Hới, Gạo, Vích, Vang, Ướng, Rồng. Người đân địa phương liệt kê 20 tên làng, đa phần là những tên Nôm bình dị. Mỗi làng đó giàu, nghèo, như thế nào, có cảnh gì đẹp, phong tục nào lạ, có nỗi đắng cay gì.
những điều đó chỉ có người dân địa phương biết. Qua nhịp điệu, người nghe ở nơi khác chỉ có thể cảm nhận sự đông vui của các đơn vị cư trú của một tỉnh đồng bằng vốn nổi tiếng về đất chật người đông. Lời ca dao "Trên thì Đún, Mãi, Hò, Khoai." mới chỉ có mặt trong một cuốn sách sưu tầm, xuất bản năm 1981, cuốn Văn học dân gian Thái Bình tập I do Pham Dic Duật (Chủ biên). Các soạn giả đã có công trong việc giới thiệu với người đọc trong tỉnh và công chúng cả nước về một đoá hoa lạ trong vườn hoa ca dao giàu hương sắc, đa dang, phong phú của nước ta“).
(1) Không phải cứ ca dao có địa đanh thì sẽ không có khả năng lưu truyền rộng và không có hiện tượng trùng lặp. Qua tài liệu của các soạn giả đi trước, chúng tôi nghĩ rằng văn bản dưới đây ra đời trước: 263 Thi phap ca dao * * Qua việc phân tích ở trên chúng ta thấy chỉ xét về mặt kết cấu nếu tác phẩm nào thuộc loại sáng tạo độc đáo không theo khuôn mẫu thì sẽ không thể hiện tính lặp lại trong sáng tác folklore. Những tác phẩm đó đang tiến gần tới địa hạt của văn học viết, những tác phẩm mà chủ phân của chúng là những cá tính sáng tạo. Nếu trong sáng tác dân gian có khoảng 19% số tác phẩm thể hiện sự trùng lặp ở cấp độ dòng thơ (từ 1 đến nhiều dòng); thì trong thơ trữ tình của dòng văn học viết thời trung đại, loại trừ những bài sáng tác theo kiểu thủ vì ngâm, những bài tập cổ, chúng tôi chưa bắt gặp một niên tượng nào như thế.
Mở rộng phạm vi sang các thể loại khác (truyện thơ, văn tế) chúng tôi mới thấy ở Nguyễr Du hiện tượng lặp lại, mặc dù hiện tượng này ở đại thi hà› họ Đường uô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Ai uô xứ Nghệ thì 0ô. Văn bản này được bảy cuốn sách sưu tầm ghi lại, những sách 1a đời sớm nhất là Nam phong giải trào (cuối thế ki XVIII - dau thé ki $IX), Dai Nam quốc tuý (1908). Văn bản dưới đây xuất hiện muộn hơn: Đường 0ô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoa đô Nó chỉ có mặt ở một cuốn. Dó là Hợp tuyển thơ uăn Việt Nam: Văn học dân gian của các soạn giả Vũ Ngọc Phan - Tạ Phong Châu ~ *ham Ngọc Hy.
Sách này xuất bản lần đầu năm 1972. 264 Kết cấu là hết sức hiếm hoi. Dòng "Đau đớn thay phận à" có mặt ở Truyện Kiều: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung® lại cũng có mặt trong Văn fế thập loại chúng sinh: Đau đớn thay phận đèn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?