phần mở đầu, kết luận; khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục thì kết quả nghiên cứu của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Ngữ văn lớp 7 theo định hướng phát triển năng lực HS ở trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn lớp 7 theo hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 7 Chƣơng 1 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 7 THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 2Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường THCS Đã có nhiều nhà sư phạm nước ta nghiên cứu về dạy học và dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, trong đó phải kể đến nghiên cứu Trịnh Văn Biều và Trần Thị Ngọc Hà đã chỉ rõ sự khác biệt giữa dạy học hướng nội dung và dạy học phát triển năng lực phẩm chất người học ở 6 phương diện: mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, kiểm tra đánh giá và sản phẩm. Đó là những yếu tố cơ bản của quá trình dạy học, và dạy học phát triển năng lực phải thay đổi nội hàm của 6 yếu tố đó. Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, (2011) [3]. Trong cuốn này hai tác giả đã nêu rõ: “Giáo dục hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
Giáo dục hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp”. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Khác với chương trình hướng nội dung, chương trình dạy học hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh.
Trần Thị Kim Dung, (2014), [11, tr. Theo tác giả, tiếp cận theo 8 hướng phát triển năng lực người học đòi hỏi chương trình giáo dục phổ thông phải xuất phát từ các năng lực thiết yếu cần có trong cuộc sống hiện tại và tương lai đối với mỗi học sinh, để từ đó đề xuất các lĩnh vực, hoạt động học tập hữu ích. Khi chương trình, sách giáo khoa đã xác định theo hướng tiếp cận năng lực, việc đánh giá kết quả của học sinh cũng phải bám sát hướng này. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập tới xu hướng đánh giá các năng lực đặc thù của môn Ngữ văn ở THCS được xem xét, đối chiếu từ góc độ của mục tiêu môn học hiện hành.
Nguyễn Trọng Hoàn, (2015). Tác giả cho rằng “Năng lực đạt được không chỉ thể hiện qua các hoạt động dạy học mà còn qua các hoạt động học tập. Nhìn chung, để đáp ứng được yêu cầu phát triển và phát huy tối đa được tiềm năng và sự sáng tạo của sinh viên trong việc cải cách giáo dục toàn diện, giáo viên phải có khả năng chuyển đổi từ việc lấy giáo viên là trung tâm sang lấy học sinh là trung tâm và tập trung vào các kỹ năng hòa nhập, khả năng giải quyết vấn đề, và tiếp thu kiến thức”. Tác giả khẳng định: người thầy chỉ có thể giúp đỡ để người học tự khám phá.
Dựa trên mục tiêu tạo điều kiện cho học sinh thể hiện bản thân, việc tổ chức quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực yêu cầu giáo viên phải nắm rõ mục tiêu nhận thức, động lực, hứng thú và kết quả phấn đấu của học sinh. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn để học sinh phát triển năng lực qua các hoạt động: giảng dạy nội dung môn học để hình thành và nâng cao năng lực chuyên môn; truyền đạt phương pháp và chiến lược học tập để giúp học sinh phát triển năng lực phương pháp; dạy kỹ năng giao tiếp và xã hội nhằm phát triển năng lực xã hội; đồng thời khuyến khích học sinh tự trải nghiệm và tự đánh giá để hình thành năng lực cá nhân. Năng lực không thể phát triển chỉ qua giảng dạy của giáo viên mà cần thông qua sự chủ động học tập của học sinh. Nguyễn Thanh Hùng, (2007) [22] đã nêu khái niệm, ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp đàm thoại và phương pháp nghiên cứu trong dạy học tác 9 phẩm văn chương ở trường THCS, tác giả cũng nêu ra các biện pháp thực hiện hai phương pháp dạy học này.
Cả hai phương pháp đều nhằm nâng cao cảm thụ của học sinh về tác phẩm từ cảm tính lên lí tính. Kích thích sự tìm tòi của học sinh trong thưởng thức, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Bước đầu giúp học sinh nắm được phương pháp, cách thức để tự tìm tòi, thưởng thức, tiếp nhận giá trị tác phẩm văn chương. Trần Thị Hiền Lương, (2015), trong xu thế hiện nay, chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng phát triển năng lực.
Thiết kế chuẩn học tập cho mỗi môn học phải thể hiện được sự gắn kết chặt chẽ của các thành tố thuộc cấu trúc năng lực. Chính vì thế, trong bài viết này, tác giả đi vào trình bày thiết kế chuẩn học tập môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực. Từ kinh nghiệm chương trình giáo dục Việt Nam trước đây và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tác giả trình bày phương án thiết kế chuẩn học tập môn Ngữ văn của Việt Nam, trong đó thể hiện rõ cấu trúc của các thành tố của chuẩn cũng như các thành tố của năng lực. Đỗ Ngọc Thống, (2014) [38, tr.1], bài viết đề cập đến việc đổi mới căn bản, toàn diện chương trình Ngữ văn.
Tác giả đã phân tích tổng quát một số vấn đề liên quan đến sự khác nhau giữa chương trình hiện hành và chương trình mới, cụ thể: chương trình hiện hành và truyền thống nói chung được tiếp cận theo hướng nội dung, chương trình mới hướng tới cách tiếp cận theo năng lực; chương trình Ngữ văn hiện hành nêu lên 03 mục tiêu; được thiết kế cắt khúc theo 03 cấp; chương trình hiện hành chủ yếu là một văn bản liệt kê các danh mục nội dung cần dạy (dạy cái gì?), Sách giáo khoa hiện hành có 02 bộ theo 02 chương trình cơ bản và nâng cao nhưng do tính phân hoá quá thấp nên thực chất là vẫn chỉ có một bộ. Chương trình mới sẽ khắc phục được những hạn chế này. Nguyễn Thị Hồng Vân, (2015), Năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh được thể hiện ở khả năng vận dụng các kiến thức tiếng Việt, các kĩ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập thông tin, cảm thụ cái đẹp và các giá trị 10 của văn bản tác phẩm. Vì vậy, việc xây dựng cấu trúc và chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh phổ thông để lập kế hoạch giảng dạy, thiết kế công cụ đo lường đánh giá năng lực học sinh là điều cần thiết.
Theo thời gian, các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học ngày càng nhiều thêm. Rất nhiều vấn đề và góc độ của dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu. Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế và những mục đích riêng. Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy học theo hướng phát triển năng lực người học để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Các nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS Để hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới, việc quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực người học cũng được nhiều nghiên cứu đề cập đến. Quản lý dạy học, quản lý giáo dục từ một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ đã trở thành một lĩnh vực có lý luận riêng. Một số công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học quản lý giáo dục như: Đặng Xuân Hải, (2017), tác giả chỉ rõ đặc điểm của sự thay đổi và những thay đổi đang diễn ra trong một nhà trường, các nhân tố tác động đến sự thay đổi đó. Tác giả vừa mô tả, phân tích nội dung các bước của quản lý sự thay đổi, vừa phân tích các rào cản, xung đột khi thực hiện một thay đổi trong giáo dục.
Từ tác phẩm, nhà quản lý sẽ chủ động đón nhận các thay đổi đối với cơ sở giáo dục của mình và có khả năng quản lý sự thay đổi đó thành công. Dương Hải Hưng, Trần Quốc Thành, (2015), hai tác giả đã đưa ra những khái quát chung về quản lý và khoa học quản lý, các hình thức và phương pháp quản lý, tổ chức bộ máy quản lý. Các tác giả đã cung cấp những 11 lý luận chung nhất về quyết định quản lý. Qua tài liệu, nhà quản lý sẽ được hướng để lập kế hoạch và thiết kế công việc cũng như thực hiện kiểm tra kết quả quản lý.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư (2015), việc xây dựng một mô hình lý luận về quản lý giáo dục cần dựa trên các tiền đề sau: quản lý được xem là một động từ, không phải danh từ; quản lý mang tính tình huống cụ thể; là quá trình đòi hỏi sự chấp nhận, tích hợp và đồng hóa; quản lý thể hiện qua hành vi của người quản lý và có tính chất dẫn dắt sự thay đổi. Các tác giả cũng chỉ rõ sự khác biệt của quản lý trong giáo dục so với các lĩnh vực khác: mục tiêu tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực; đánh giá dựa trên nhân cách, và kết quả chính là sự phát triển toàn diện của con người…[32, tr.