CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TỪ 2 - 3 TUỔI 1. Các khái niệm công cụ 1. Công tác xã hội Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống.” Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh: “CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp. Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình.” Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: “CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”. Qua các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu rằng công tác xã hội chính là một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của mình, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội. Công tác xã hội cá nhân CTXH cá nhân là một trong những phương pháp cơ bản của CTXH.
Công tác xã hội cá nhân xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển công tác xã hội cả trên phương diện lý thuyết và thực tế. CTXH với cá nhân bắt đầu được thực hiện từ nửa sau của thế kỷ XIX và không ngừng được bổ sung hoàn thiện cho đến ngày nay. Thư viện ĐH Thăng Long Đối tượng tác động của công tác xã hội với cá nhân là những cá nhân hoặc gia đình có vấn đề xã hội. Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thất nghiệp; người bị khuyết tật; người già, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, sống lang thang, bị ngược đãi, bị lạm dụng tình dục, lạm dụng sức khoẻ, bóc lột sức lao động; phụ nữ bị bạo hành, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội; người bị nhiễm các dịch bệnh hiểm nghèo; người nghiện ma tuý, hành nghề mại dâm, tội phạm xã hội,.
Trẻ em Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em là khái niệm được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người. Sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em giai đoạn từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì là một trong những nội dung quan trọng trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học. Theo đó, tâm lý học phân chia lứa tuổi trẻ em thành các giai đoạn khác nhau, ứng với sự phát triển và tiếp thu nhận thức khác nhau: Tuổi sơ sinh, tuổi mẫu giáo nhỏ, tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thành niên mới lớn. Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi dậy thì.
Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc, với nghĩa ẩn dụ, hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ". Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em chính thức được đề cập trong Pháp lệnh Bảo vệ chăm sóc sức khỏe gia đình trẻ em năm 1979: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1). Sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC), Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 1991, trong đó quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
Trẻ em là người chưa đạt được đến sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần; nhận thức và nhân cách để được coi là người lớn. Trẻ em sẽ được xã hội quan tâm, tạo điều kiện bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển một cách toàn diện. Người dưới 16 tuổi được coi là trẻ em. Ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chính của con người, có thể tồn tại ở dạng lời nói, ký hiệu hoặc chữ viết.
Nhiều ngôn ngữ sở hữu hệ chữ viết có chức năng ký âm hoặc ký hiệu lời nói để sau này có thể kích hoạt lại. Có thể biết rằng ngôn ngữ là một hệ thống các dấu hiệu mà chúng ta sử dụng để giao tiếp với nhau. Các dấu hiệu là lời nói, âm thanh, ngôn ngữ cũng có các ký hiệu viết là bảng chữ cái mà chúng ta sử dụng khi viết. Do đó, giao tiếp, trong bất kỳ ngôn ngữ nào, chỉ có thể thực hiện được nhờ các ký hiệu ngôn ngữ hoạt động theo một số quy tắc và quy ước.
Khái niệm chậm phát triển ngôn ngữ Phát triển ngôn ngữ của trẻ chính là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng giao tiếp sau này của trẻ nhỏ. Tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ có những giai đoạn được coi là “thời điểm vàng” nổi trội đó là giai đoạn từ 2-3 tuổi. Ở thời điểm này, việc tiếp nhận, hình thành năng lực ngôn ngữ ở trẻ diễn ra mạnh mẽ với các mốc “tiền ngôn ngữ”, “từ vựng thành câu”,… Trẻ có thể phát triển ngôn ngữ sớm hơn hoặc chậm hơn chút so với độ tuổi. Tuy nhiên, vẫn có những cột mốc chung để đánh giá sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 8-42 tháng tuổi Giai đoạn tuổi Đặc điểm 8-12 tháng Dùng cử chỉ, điệu bộ và phát ra âm thanh để biểu hiện ý muốn: đòi các đồ vật hoặc hành động, từ chối, trò chơi, giao tiếp Thường bộc lộ các hành động hành vi giao tiếp với tần suất đến 2,5 lần/phút khi chơi tự do 12-18 tháng Bắt đầu dùng từ thay cho hành vi cử chỉ để biểu hiện ý muốn tháng Tần suất khi chơi tự do lên đến 5 lần/phút 18-24 tháng Từ ngữ sử dụng trong giao tiếp tăng lên trong việc dùng cử chỉ, điệu bộ Diễn tả được nhiều mục đích mới dạng đề nghị/cầu khiển và trả lời câu giảm xuống Thư viện ĐH Thăng Long Tần suất hành vi giao tiếp khi chơi tự do lên đến khoảng 7,5 lần/phút 24-30 tháng Bước đầu biết cách đề nghị khéo léo (Ví dụ: nài nỉ. đi bố) Hướng đến thêm những mục đích mới như chơi với biểu tượng, nói với đồ vật vắng mặt tháng Kể về sự vật, sự việc gọi tên — mô tả 30-36 tháng Biết nêu yêu cầu để người khác giải thích lại Việc sử dụng ngôn trong vui chơi tăng lên tháng Kể chuyện theo chủ đề nhưng không giữ được cốt chuyện 36-42 tháng Linh hoạt hơn trong thể hiện đề nghị, biết xin phép và đề nghị một cách gián tiếp; kiểu yêu cầu trực tiếp giảm xuống Kể chuyện theo chủ đề và ít nhiều biết sắp xếp các chi tiết theo trật tự thời gian ( Nguồn: Luận văn thạc sĩ- Tạ Thị Ngọc Bích) Bảng 1. Sự phát triển nội dung ngôn ngữ của trẻ từ 8-42 tháng tuổi Giai đoạn tuổi Đặc điểm 8-12 tháng Hiểu từ 30 – 50 từ; Những từ đầu tiên dùng để chỉ người và đồ vật thân quen; trò chơi giao - tiếp và rập khuôn; nói về sự xuất hiện, biến mất và trở lại. 12-18 tháng Có vốn từ diễn đạt từ 50 – 100 ở 18 tháng tuổi Hiểu và diễn đạt câu tiếng một về chủ thể, hành động, đối tượng, vị trí, sở hữu, sự loại bỏ, sự biến mất, sự không tồn tại, sự từ chối 18-24 tháng Có vốn diễn đạt 20 – 300 ở 24 tháng tuổi Diễn đạt các mối quan hệ phổ biến: chủ thể – hành động, chủ thể – đối tượng, hành động – đối tượng, hành động – vị trí, thực thể – vị trí, chủ sở - hữu — sở hữu, chỉ định – thực thể, thuộc tính – thực thể 24-30 tháng Hiểu và sử dụng câu hỏi về đối tượng (cái gì?), con người (ai?) và các sự kiện chính (X đang làm gì?X đang đi đâu?) 30-36 tháng Hiểu và sử dụng câu hỏi tại sao 30-36 Hiểu và sử dụng các từ chỉ vị trí trong không gian (trong, ngoài, trên, dưới.) 36-42 tháng Hiểu và sử dụng các câu kế tiếp nhau có mối quan hệ thời gian, nhân quả, tháng đối lập Hiểu các từ chỉ màu sắc cơ bản Hiểu và sử dụng các từ thuộc cùng một lớp ( Nguồn: Luận văn thạc sĩ- Tạ Thị Ngọc Bích) CPTNN ở trẻ em được chia thành hai loại, chậm phát triển ngôn ngữ đơn thuần và chậm phát triển ngôn ngữ tự kỷ.Hiện tượng chậm phát triển ngôn ngữ đơn thuần là do bị rối loạn trong phát triển ngôn ngữ.
Chậm phát triển ngôn ngữ đơn thuần là khi trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu hoặc sử dụng ngôn ngữ nói. Những khó khăn này là bất thưởng với lứa tuổi của trẻ. Những khó khăn có thể là với phản ứng với ngôn ngữ, hiểu từ hoặc câu, nói những từ đầu tiên hoặc học từ; ghép các từ lại với nhau để tạo thành câu, xây dựng vốn từ vựng. Trẻ có thể CPTNN nếu không đạt được các mốc phát triển ngôn ngữ theo các mốc phát triển truyền thống.
Khả năng ngôn ngữ của trẻ có thể phát triển với tốc độ chậm hơn so với hầu hết trẻ cùng trang lứa. Trẻ có thể gặp khó khăn khi thể hiện bản thân hoặc hiểu người khác. Sự chậm trễ này có thể liên quan đến sự kết hợp của suy giảm khả năng nghe, nói và nhận thức. Còn trẻ tự kỷ thường bị chậm phát triển ngôn ngữ, không hiểu ngôn ngữ, sống với một thế giới riêng, tách biệt với thế giới xung quanh.