Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Công tác xã hội cá nhân với trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ 2 - 3 tuổi (Nghiên cứu tại viện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC)" được thực hiện bởi sinh viên Trịnh Kiều Trang (Mã sinh viên: A37346), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Thị Quý tại Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Thăng Long vào năm 2023. Đề tài thuộc chuyên ngành Công tác xã hội, tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụng quy trình can thiệp ca cá nhân kết hợp khảo sát thực trạng.

Theo trình bày của tác giả, trong những năm gần đây, số lượng trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN) gia tăng nhanh chóng. Thống kê lâm sàng chỉ ra rằng cứ 5 trẻ thì có 1 trẻ học nói và sử dụng ngôn ngữ chậm hơn các bạn cùng lứa tuổi. Giai đoạn 2 - 3 tuổi là thời điểm then chốt để hình thành năng lực hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, giúp trẻ bộc lộ nhu cầu cá nhân và thiết lập tương tác xã hội. Khi trẻ bị chậm nói, trẻ dễ nảy sinh các rối nhiễu hành vi, bùng nổ cảm xúc và ức chế tâm lý do không thể diễn đạt mong muốn. Bối cảnh đại dịch COVID-19 kéo dài khiến các trường mầm non đóng cửa, trẻ bị giãn cách ở nhà và tiếp xúc thụ động một chiều với các thiết bị điện tử (điện thoại, iPad, tivi), làm gia tăng đột biến tình trạng chậm nói. Số liệu thực tế từ các trung tâm tâm lý trẻ em tại Hà Nội cho thấy có thời điểm tiếp nhận khoảng 70 trường hợp thăm khám/ngày thì có đến 90% có biểu hiện chậm nói ở độ tuổi trung bình từ 15 đến 32 tháng.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về trẻ CPTNN chủ yếu tập trung dưới góc độ y học, tâm lý học thần kinh hoặc giáo dục đặc biệt mà thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ Công tác xã hội (CTXH). Vị trí, vai trò của nhân viên CTXH trong các trung tâm can thiệp chuyên biệt chưa được nhìn nhận đầy đủ, thường bị đồng nhất với giáo viên chuyên biệt mà chưa phát huy được vai trò kết nối hệ thống thân chủ, tham vấn tâm lý cho gia đình và điều phối nguồn lực trị liệu.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về CTXH cá nhân với trẻ CPTNN trong độ tuổi 2 - 3 tuổi.
  2. Khảo sát và phân tích thực trạng khó khăn của trẻ CPTNN cùng thực trạng trợ giúp của nhân viên CTXH tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC.
  3. Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân vào can thiệp thực tế cho trường hợp trẻ CPTNN nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ và thúc đẩy hòa nhập cộng đồng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến trẻ CPTNN từ 2 đến 3 tuổi và phương pháp CTXH cá nhân.
  2. Phân tích thực trạng trẻ CPTNN từ 2 - 3 tuổi và các yếu tố tác động đến hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH.
  3. Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân để can thiệp, trợ giúp cụ thể cho trường hợp trẻ CPTNN từ 2 - 3 tuổi tại cơ sở nghiên cứu.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng trẻ CPTNN trong độ tuổi từ 2 đến 3 tại các trung tâm can thiệp và viện nghiên cứu gặp những khó khăn nào?
  2. Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình can thiệp cho trẻ CPTNN từ 2 - 3 tuổi của nhân viên CTXH tại các trung tâm?
  3. Ứng dụng công tác xã hội trong việc hỗ trợ cho trẻ CPTNN trong độ tuổi từ 2 đến 3 có hiệu quả không?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Trong quá trình can thiệp, trẻ CPTNN gặp khó khăn về diễn đạt ngôn ngữ, tâm lý và điều kiện kinh tế gia đình.
  2. Yếu tố ảnh hưởng đến trẻ CPTNN từ 2 - 3 tuổi gồm hai nhóm chính: yếu tố chủ quan (bệnh thực thể, thính giác) và yếu tố khách quan (môi trường sống, tương tác gia đình).
  3. Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện khả năng giao tiếp của trẻ trước và sau can thiệp.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp công tác xã hội cá nhân với trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ 2 - 3 tuổi.
  • Khách thể nghiên cứu: 25 trẻ CPTNN tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC, 6 người nhà của trẻ, 3 giáo viên can thiệp và 2 nhân viên CTXH.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022.
  • Không gian: Địa bàn Hà Nội, nghiên cứu thực địa tập trung tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC.
  • Nội dung: Tập trung làm rõ các khó khăn của nhóm trẻ CPTNN đơn thuần từ 2 - 3 tuổi và thực nghiệm tiến trình can thiệp ca cá nhân 7 bước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm công cụ dựa trên các văn bản quy chuẩn và học thuyết chuyên ngành:

  • Khái niệm Công tác xã hội theo định nghĩa của Hiệp hội Công tác xã hội Quốc tế (IFSW, 2011), định nghĩa của cố ThS. Nguyễn Thị Oanh và Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ.
  • Khái niệm trẻ em tiếp cận dưới góc độ pháp lý (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi; Pháp lệnh năm 1979 quy định dưới 15 tuổi) và tâm lý học phát triển.
  • Khái niệm chậm phát triển ngôn ngữ: Phân định rõ giữa CPTNN đơn thuần (rối loạn chức năng hiểu hoặc sử dụng ngôn ngữ nói nhưng trí tuệ và giác quan bình thường) và CPTNN do tự kỷ (kèm theo khiếm khuyết tương tác xã hội và hành vi định hình).

Khóa luận áp dụng hai khung lý thuyết nền tảng trong thực hành CTXH cá nhân:

  1. Lý thuyết Nhận thức - Hành vi (CBT): Giải thích cơ chế hình thành phản xạ ngôn ngữ có điều kiện. Ứng dụng nguyên lý kích thích - phản ứng và phương pháp củng cố tích cực (khen thưởng/nhắc nhở) để điều chỉnh nhận thức, uốn nắn hành vi lệch chuẩn và kích thích trẻ phát âm.
  2. Thuyết Thân chủ trọng tâm (Carl Rogers, 1951): Đặt trẻ và gia đình vào vị trí trung tâm của quá trình can thiệp; vận dụng hệ thống kỹ năng lắng nghe tích cực, phản hồi nội dung, phản hồi tâm tình và thấu cảm không phán xét nhằm khơi dậy tiềm năng tự phục hồi của thân chủ.
  3. Lý thuyết Hệ thống: Tiếp cận môi trường tương tác xung quanh trẻ (gia đình, trung tâm, trường mầm non) để xây dựng mạng lưới hỗ trợ toàn diện.
Phương pháp nghiên cứu Kỹ thuật & Công cụ thực hiện Nguồn dữ liệu & Khách thể
Phân tích tài liệu Tổng hợp, so sánh các nghiên cứu quốc tế (Rescorla, Whitehouse, DSM-IV, thang Vineland, Test Denver) và trong nước (Lê Thị Quý, Nguyễn Thị Oanh, Lê Khanh, Tạ Thị Ngọc Bích). Tài liệu thứ cấp: Giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, hồ sơ bệnh án, báo cáo tổng kết của ATEC.
Quan sát Quan sát trực tiếp hành vi cử chỉ, tương tác mắt, phản xạ lời nói và hoạt động chơi tự do/có hướng dẫn. 25 trẻ CPTNN trong các giờ can thiệp cá nhân 1:1 và sinh hoạt nhóm tại Viện ATEC.
Phỏng vấn sâu Phỏng vấn trực tiếp theo bảng hỏi bán cấu trúc. 6 phụ huynh (phỏng vấn sâu chị T, anh K, chị H), 3 giáo viên chuyên biệt, 2 nhân viên CTXH và lãnh đạo trung tâm (cô L.P).
Khảo sát định lượng Bảng hỏi đo lường mức độ tiếp cận thông tin, hành vi ứng phó và mức độ hài lòng. Mẫu khảo sát phụ huynh tại trung tâm (n = 48 và mẫu đánh giá hoạt động tham vấn).
Tiến trình CTXH cá nhân Quy trình can thiệp ca 7 bước: Tiếp nhận $\rightarrow$ Thu thập thông tin $\rightarrow$ Chẩn đoán/Đánh giá $\rightarrow$ Lập kế hoạch $\rightarrow$ Triển khai can thiệp $\rightarrow$ Lượng giá $\rightarrow$ Kết thúc ca. Can thiệp ca lâm sàng điển hình: Thân chủ Y (bé Mint, 2 - 3 tuổi) tại Viện ATEC.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TỪ 2 - 3 TUỔI

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm phát triển tâm lý, ngôn ngữ của trẻ giai đoạn 2 - 3 tuổi và vai trò của CTXH cá nhân. Ở độ tuổi này, trẻ bình thường sở hữu vốn từ trung bình khoảng 1.000 từ (cơ cấu gồm 60% danh từ, 20% động từ, 10% danh từ riêng, 10% tính từ và đại từ). Trẻ bắt đầu sử dụng đại từ "con", biết ghép câu đơn từ 2 - 4 từ và đặt câu hỏi. Ngược lại, trẻ CPTNN chỉ nói nhại lời, phát âm âm mũi/the thé, vốn từ dưới 200 từ hoặc gặp trở ngại khi thể hiện nhu cầu.

Tác giả tổng hợp bảng mốc phát triển ngôn ngữ trẻ từ 8 - 42 tháng tuổi (dẫn theo nghiên cứu của Tạ Thị Ngọc Bích):

  • 8 - 12 tháng: Hiểu 30 - 50 từ, dùng cử chỉ đòi hỏi, tần suất giao tiếp 2,5 lần/phút.
  • 12 - 18 tháng: Vốn từ diễn đạt 50 - 100 từ, tần suất giao tiếp 5 lần/phút.
  • 18 - 24 tháng: Vốn từ 200 - 300 từ, nói câu 2 từ, tần suất giao tiếp 7,5 lần/phút.
  • 24 - 36 tháng: Sử dụng câu hỏi "Cái gì?", "Ở đâu?", "Tại sao?", hiểu từ chỉ vị trí.
  • 36 - 42 tháng: Diễn đạt câu phức nối tiếp thời gian, nhân quả, phân biệt màu sắc.

Chương này phân tích hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự chậm phát triển ngôn ngữ:

  • Yếu tố chủ quan: Bệnh lý thực thể bẩm sinh (sinh non, sinh nhẹ cân, dính phanh lưỡi, hở hàm ếch), tổn thương thính giác hoặc viêm tai giữa mãn tính.
  • Yếu tố khách quan: Môi trường thiếu giao tiếp hai chiều, lạm dụng thiết bị điện tử, hoàn cảnh kinh tế nghèo nàn hoặc môi trường đa ngôn ngữ gây nhiễu loạn.

Đồng thời, tác giả xác định 4 chức năng giáo dục của CTXH: Phòng ngừa, Can thiệp, Phục hồi và Phát triển, kết hợp vai trò kết nối nguồn lực xã hội theo mô hình can thiệp đa ngành.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TỪ 2 - 3 TUỔI

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực địa tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC (thành lập ngày 05/09/2018 theo Quyết định số 178/QĐ của Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam). Nghiên cứu chỉ ra 3 nhóm khó khăn lớn của trẻ CPTNN và gia đình:

  1. Khó khăn kinh tế: Chi phí can thiệp cá nhân 1:1 và giáo dục chuyên biệt tạo gánh nặng lớn cho gia đình thu nhập thấp hoặc gia đình có nhiều con cùng mắc hội chứng rối loạn phát triển (trường hợp chị T thu nhập 15 triệu đồng/tháng; anh K có con đầu tự kỷ, con thứ hai CPTNN).
  2. Khó khăn diễn đạt ngôn ngữ: Trẻ không thể bộc lộ nhu cầu dẫn đến cáu gắt, hay ốm vặt, khả năng tiếp thu bài học chậm hơn lứa tuổi.
  3. Khó khăn tâm lý: Trẻ tự ti, thu mình, giảm tương tác xã hội. Nghiên cứu thực nghiệm quốc tế dẫn chứng (nghiên cứu 29 năm tại Mỹ trên 7.000 trẻ) cho thấy sự chậm trễ ngôn ngữ tiếp thu ở tuổi lên 5 nếu không can thiệp sẽ làm gia tăng nguy cơ rối loạn sức khỏe tâm thần khi bước vào tuổi 34.

Khảo sát về hành vi tìm kiếm hỗ trợ của phụ huynh khi phát hiện con CPTNN:

  • 72,3% phụ huynh chia sẻ lên mạng xã hội (các hội nhóm trẻ tự kỷ).
  • 61,4% chia sẻ trong nội bộ gia đình.
  • 25,7% tự tìm cách giải quyết.
  • 15,7% chia sẻ với bạn bè.
  • 12,3% tìm đến các chuyên gia tâm lý/CTXH.
Nội dung khảo sát tại Viện ATEC Tỷ lệ phản hồi (%) Số lượng / Cơ cấu mẫu
Mức độ hài lòng về hoạt động tham vấn của NV CTXH (Khảo sát trên nhóm phụ huynh can thiệp)
- Khá hài lòng 52,9% Chiếm đa số
- Rất hài lòng 32,4% Đánh giá cao hiệu quả tham vấn
- Hài lòng 14,7% Cần cải thiện chuyên sâu
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của Trung tâm đến can thiệp (Khảo sát n = 48 phụ huynh)
- Ảnh hưởng nhiều 81,2% 39 / 48 phụ huynh
- Ảnh hưởng ít 16,7% 8 / 48 phụ huynh
- Không ảnh hưởng 4,2% 2 / 48 phụ huynh

CHƯƠNG 3. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TỪ 2 - 3 TUỔI

Chương 3 mô tả chi tiết việc triển khai tiến trình can thiệp ca trên trường hợp thân chủ Y (bé Mint, 2 - 3 tuổi) tại Viện ATEC. Quy trình gồm 7 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Tiếp nhận thân chủ): Thiết lập mối quan hệ tin tưởng, tạo môi trường trị liệu an toàn và cởi mở với bé và gia đình.
  • Giai đoạn 2 (Thu thập thông tin): Khai thác tiền sử phát triển, tiểu sử sinh sản của mẹ, thói quen sinh hoạt và môi trường tương tác tại gia đình.
  • Giai đoạn 3 (Đánh giá và xác định vấn đề): Sử dụng công cụ sơ đồ phả hệ (Genogram), sơ đồ sinh thái (Eco-map) và cây vấn đề (Problem Tree) để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ và các mối liên hệ xã hội. Xác định vấn đề cốt lõi: Trẻ bị thiếu hụt giao tiếp tương tác hai chiều do tiếp xúc thiết bị điện tử quá nhiều, dẫn đến chậm nói và bùng nổ ức chế tâm lý.
  • Giai đoạn 4 (Lập kế hoạch can thiệp): Thiết lập mục tiêu ngắn hạn (tăng phản xạ mắt, tập phát âm từ đơn, chỉ đồ vật theo yêu cầu) và dài hạn (nói câu 2 - 3 từ, chủ động chào hỏi, tự phục vụ).
  • Giai đoạn 5 (Triển khai hoạt động can thiệp): Thực hiện trị liệu ngôn ngữ 1:1, áp dụng bài tập vận động cơ quan cấu âm, trò chơi đóng vai; hướng dẫn cha mẹ quy tắc giao tiếp tích cực tại nhà và hạn chế tối đa tivi/điện thoại.
  • Giai đoạn 6 (Lượng giá): Đo lường sự tiến bộ về vốn từ, khả năng thấu hiểu mệnh lệnh và mức độ giảm thiểu các cơn giận dữ của trẻ.
  • Giai đoạn 7 (Kết thúc ca): Bàn giao kế hoạch duy trì tại gia đình và hướng dẫn phụ huynh đưa trẻ chuyển tiếp sang môi trường mầm non hòa nhập.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Đánh giá định lượng cho thấy 85,3% phụ huynh bày tỏ mức độ hài lòng cao đối với hoạt động tham vấn của nhân viên CTXH tại Viện ATEC (gồm 32,4% rất hài lòng và 52,9% khá hài lòng).
  • 81,2% phụ huynh khẳng định môi trường chuyên biệt và phương pháp giáo dục của trung tâm giữ vai trò quyết định đến tiến bộ ngôn ngữ của trẻ.
  • Thực nghiệm tiến trình can thiệp ca cá nhân trên thân chủ Y (bé Mint) đạt kết quả cụ thể: Trẻ tăng khả năng tập trung chú ý, nhận biết và chỉ đúng đồ vật quen thuộc, phát âm được các từ đơn chỉ nhu cầu ăn/uống/đi chơi, giảm các hành vi ăn vạ và cải thiện kỹ năng chơi tương tác với bạn bè.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Đối với Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC: Thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tham vấn gia đình cho nhân viên CTXH; đa dạng hóa các hoạt động ngoại khóa hòa nhập cộng đồng; thiết lập sổ tay hướng dẫn trị liệu ngôn ngữ tại nhà cho phụ huynh.
  2. Đối với Đảng và Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách an sinh xã hội cho trẻ có nhu cầu đặc biệt; ban hành chính sách bảo hiểm y tế hoặc trợ cấp chi phí can thiệp đối với trẻ CPTNN thuộc hộ nghèo; đẩy mạnh chuẩn hóa mã ngành và vị trí việc làm của nhân viên CTXH trong trường học và cơ sở y tế.
  3. Đối với gia đình và phụ huynh: Nâng cao nhận thức về các mốc phát triển ngôn ngữ để đưa trẻ đi sàng lọc sớm trước 3 tuổi; tuyệt đối không phó mặc trẻ cho người giúp việc hoặc thiết bị điện tử một chiều; kiên trì phối hợp cùng giáo viên và nhân viên CTXH thực hiện các bài tập tương tác tại nhà.
  4. Đối với nhân viên CTXH: Cần trau dồi kiến thức liên ngành (tâm lý học phát triển, giáo dục đặc biệt, âm ngữ trị liệu); tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và thực hiện nghiêm ngặt tiến trình quản lý ca.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp lý luận: Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo có giá trị về ứng dụng CTXH cá nhân với nhóm thân chủ trẻ CPTNN lứa tuổi 2 - 3 tuổi tại Việt Nam; hệ thống hóa cơ sở lý thuyết kết hợp giữa Thuyết Nhận thức - Hành vi và Thuyết Thân chủ trọng tâm trong can thiệp lâm sàng.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp minh chứng thực nghiệm về quy trình 7 bước can thiệp ca thành công tại Viện ATEC; làm rõ vai trò đa nhiệm của nhân viên CTXH (kết nối, tham vấn, giáo dục, biện hộ) trong mô hình can thiệp sớm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi thời gian ngắn (từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022) tại một địa bàn duy nhất là Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC (Hà Nội). Khách thể nghiên cứu ca tập trung vào một trường hợp điển hình (bé Mint), chưa mở rộng can thiệp so sánh đối chứng trên quy mô mẫu lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả gợi mở việc mở rộng phạm vi khảo sát trên nhiều trung tâm can thiệp và trường mầm non hòa nhập ở các tỉnh thành khác nhau; theo dõi dài hạn (longitudinal study) sự phát triển ngôn ngữ và khả năng thích ứng xã hội của trẻ sau khi kết thúc can thiệp CTXH và chuyển tiếp lên bậc tiểu học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học lâm sàng trẻ em, Giáo dục đặc biệt; các nhân viên CTXH, giáo viên can thiệp sớm tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt và các bậc phụ huynh có con trong độ tuổi mầm non gặp khó khăn về ngôn ngữ.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Khung tiến trình 7 bước can thiệp ca cá nhân chi tiết kèm cách thức ứng dụng các công cụ đánh giá lâm sàng (sơ đồ phả hệ, sơ đồ sinh thái, cây vấn đề).
    • Bảng tổng hợp mốc phát triển ngôn ngữ trẻ từ 8 đến 42 tháng tuổi.
    • Hệ thống 12 nguyên tắc hỗ trợ ngôn ngữ tại gia đình và các kỹ thuật tham vấn thân chủ trọng tâm (lắng nghe tích cực, phản hồi tâm tình).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt giữa chậm phát triển ngôn ngữ đơn thuần và chậm phát triển ngôn ngữ do tự kỷ như thế nào?
Trẻ CPTNN đơn thuần có trí tuệ phát triển bình thường, cơ quan cảm giác nguyên vẹn nhưng gặp khó khăn cục bộ trong việc hiểu hoặc phát âm từ ngữ do thiếu môi trường giao tiếp. Trong khi đó, trẻ tự kỷ bị suy giảm ngôn ngữ kèm theo tổn thương lan tỏa ở nhiều vùng chức năng: không giao tiếp mắt, không có cử chỉ tương tác, sống tách biệt và có các hành vi rập khuôn, định hình phức tạp.

2. Khảo sát thực tế trong khóa luận cho thấy phụ huynh thường tìm kiếm sự giúp đỡ ở đâu đầu tiên khi con có dấu hiệu chậm nói?
Theo kết quả khảo sát, có tới 72,3% phụ huynh tìm đến mạng xã hội (các diễn đàn trẻ tự kỷ) và 61,4% chia sẻ trong gia đình. Tỷ lệ tự giải quyết là 25,7%, chia sẻ với bạn bè là 15,7%, và chỉ có 12,3% phụ huynh tìm đến sự tham vấn của các chuyên gia tâm lý hoặc nhân viên CTXH chuyên nghiệp ngay từ đầu.

3. Nhân viên CTXH vận dụng Lý thuyết Nhận thức - Hành vi vào can thiệp cho trẻ CPTNN tại Viện ATEC như thế nào?
Lý thuyết Nhận thức - Hành vi được áp dụng làm nền tảng cho phương pháp ABA. Nhân viên CTXH xem việc đáp ứng nhu cầu/sở thích của trẻ là kích thích và việc trẻ sử dụng ngôn ngữ/hành vi đúng là phản xạ có điều kiện. Quá trình can thiệp sử dụng kỹ thuật củng cố tích cực (khen ngợi, trao phần thưởng) khi trẻ phát âm đúng và giảm dần các hành vi ăn vạ, giúp trẻ nhận thức rằng việc giao tiếp bằng lời nói là điều kiện tiên quyết để được đáp ứng nhu cầu.

4. Khảo sát tại Viện ATEC ghi nhận mức độ hài lòng của phụ huynh đối với hoạt động tham vấn của nhân viên CTXH đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Kết quả khảo sát phản ánh mức độ hài lòng rất tích cực: 52,9% phụ huynh đánh giá khá hài lòng, 32,4% rất hài lòng, và 14,7% đánh giá hài lòng. Không có phụ huynh nào đánh giá không hài lòng về hoạt động tham vấn của trung tâm.

5. Tiến trình CTXH cá nhân áp dụng trên thân chủ Y (bé Mint) gồm những bước nào?
Tiến trình gồm 7 giai đoạn: (1) Tiếp nhận thân chủ; (2) Thu thập thông tin; (3) Đánh giá và xác định vấn đề (dùng Genogram, Eco-map, Problem Tree); (4) Lập kế hoạch can thiệp; (5) Triển khai hoạt động can thiệp 1:1 và hỗ trợ gia đình; (6) Lượng giá kết quả; (7) Kết thúc ca và chuẩn bị hòa nhập.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Kiều Trang đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng khó khăn toàn diện về kinh tế, ngôn ngữ và tâm lý của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ 2 - 3 tuổi tại Viện ATEC. Công trình khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của việc ứng dụng tiến trình Công tác xã hội cá nhân kết hợp Thuyết Nhận thức - Hành vi và Thuyết Thân chủ trọng tâm trong trị liệu ngôn ngữ sớm. Kết quả nghiên cứu là minh chứng thực nghiệm có giá trị, góp phần khẳng định vị thế và chức năng thiết yếu của nhân viên Công tác xã hội trong mạng lưới can thiệp giáo dục đặc biệt tại Việt Nam.