Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại và đặc điểm hình thái Huỷnh là cây gỗ lớn, ưa sáng, đa tác dụng, có giá trị quan trọng trong phát triển kinh tế và phục hồi rừng. Do vậy, trên thế giới đã có những nghiên cứu về cây này từ khá sớm.
Đã có sự đồng thuận tương đối cao giữa các tác giả ở nhiều quốc gia và các tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau về tên gọi, phân loại và mô tả đặc điểm hình thái. a) Tên gọi, phân loại: Huỷnh có tên khoa học là Tarrietia javanica Blume, là một trong 35 loài thuộc chi Tarrietia, họ Trôm (Sterculiaceae), Bộ Bông (Malvales), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta). Ở Indonesia và Malaysia Huỷnh được người dân địa phương gọi là Mengkulang jari; ở Lào được gọi là Hao; ở Philippines được gọi là Lumbayau (Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu, 2004); ở Campuchia Huỷnh được gọi là Daun Chem (Norn Narong; Kim Sobon, 2014). Theo Anwary Dilmy, chi Heritiera Ait.M và Tarrietia là đồng nhất.
Chi này gồm 29 loài có phân bố từ Ấn Độ, Malaysia, New Guinea và khu vực Thái Bình Dương đến vùng nhiệt đới của Úc. Theo tác giả, Huỷnh có tên khoa học là Tarrietia javanica Blume hoặc Tarrietia cochinchinesis Pierre, Tarrietia sumairand, Tarrietia riedeliana (A. Họ Trôm (Sterculiaceae) là một danh pháp khoa học để chỉ một nhóm thực vật có hoa ở cấp độ họ. Giới hạn định nghĩa, tình trạng và vị trí của họ này thay đổi theo từng quan điểm phân loại.
Tên gọi khoa học của họ này dựa vào chi Trôm (Sterculia). Theo định nghĩa truyền thống thì các họ Sterculiaceae, Malvaceae, Bombacaceae và Tiliaceae tạo thành "phần cơ bản của bộ Cẩm quỳ" trong hệ thống Cronquist và được công nhận. Sterculiaceae có thể tách ra từ Malvaceae nghĩa hẹp (sensu stricto) do có bề mặt nhẵn của các hạt phấn hoa và các bao phấn hai ngăn. 7 b) Đặc điểm hình thái, vật hậu Theo Joker (2004), Huỷnh được mô tả là cây gỗ lớn, thường xanh, chiều cao có thể đạt tới 30-45m, thân thẳng, tròn với tán lá dày đặc.
Lá kép chân vịt có 3-7 lá chét, lá trơn ở trên bề mặt nhưng có các sợi lông ở các trục lá; Quả phồng dài 5-10 cm, cánh dài 7-15 cm, lõm với chóp nhọn. Các cụm hoa là các hạch nách. Hoa thiếu tràng hoa, nhỏ, đỏ, đơn tính, chùm hoa lớn (đến 13 cm). Đài xẻ 5 thùy, ở cả hai mặt đều phủ lông hình sao.
Hoa đực có cuống nhụy dài khoảng 1mm, ở gốc có đĩa mật dày, ở đầu mang một vòng bao phấn (8 - 10 chiếc). Hoa cái: lá noãn 5, dính nhau; mỗi lá noãn có một noãn, phủ lông, quả đại có cánh dài dạng đuôi cá, dài 4 - 6cm, phần cứa hạt chỉ dài 2cm. Mùa ra hoa tháng 4 - 5, mùa quả chín vào tháng 8 - 9. Cây tái sinh bằng hạt.
Theo Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu (2004), ở Philippines thì Huỷnh ra hoa vào tháng 1 - 2 và kết quả vào tháng 5 - 6 hàng năm. Khi quả trưởng thành chuyển sang màu nâu có thể thu hái được. Quả Huỷnh có cánh dài 6,2 x (1,5- 3) cm, chứa 1 hạt. Sau khi loại bỏ cánh, 1kg có 1200-1600 hạt.
Cây 5 - 6 tuổi bắt đầu ra hoa. Ở miền Trung Việt Nam, cây ra hoa tháng 2 - 3 và ra quả tháng 7 - 8. Sản lượng hạt của lâm phần 10 tuổi đạt khoảng 15 kg/ha. Đặc điểm phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng a) Đặc điểm phân bố: Huỷnh có phân bố khá rộng rãi ở Malaysia, Indonesia (New Guinea), Thái Lan, Đông Dương và miền Nam Philippines (Mindanao).
Ở Việt Nam, Campuchia và Lào thường thấy Huỷnh phân bố trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm, độ cao dưới 800m so với mực nước biển (Soerianegara, 1994; Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu, 2004). b) Đặc điểm sinh thái: Huỷnh thường mọc rất rải rác, ít khi phân bố tập trung thành đám nhỏ, trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh có độ cao dưới 800m và lượng mưa hàng năm khoảng 2. Cây thích hợp với đất feralit, phát triển trên đá granit, phù sa cổ hay đất dốc tụ, đất thịt pha cát, ẩm, màu mỡ, hơi chua. Tốc độ tăng trưởng của 8 Huỷnh tương đối chậm (Soerianegara, 1994); (Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu, 2004); (Joker, 2004).
c) Tính chất gỗ và giá trị sử dụng: Gỗ Huỷnh bền và cứng, chịu được mối mọt, nấm và nước biển, nên thích hợp cho việc sản xuất đồ gia dụng, đóng tàu thuyền và dùng cho các công trình xây dựng ngoài trời như là cột điện, dầm và cầu (Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu, 2004); (Joker, 2004). Nghiên cứu chọn giống và nhân giống Việc nghiên cứu chọn và nhân giống Huỷnh mới chỉ bắt đầu trong khoảng 10 - 15 năm trở lại đây, vì vậy kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này còn khá ít và mang nhiều tính kinh nghiệm. Năm 2003, với sự đầu tư của Chính phủ Đan Mạch, dự án giống của Campuchia đã xây dựng được 10ha vườn giống, khảo nghiệm cho 6 loài bao gồm Dầu con rái đỏ (Dipterocarpus turbinatus), Dó bầu (Aquilaria crassna), Sao đen (Hopea odorata), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Chò núi (Shorea vulgaris) và Huỷnh, trong đó vườn giống Huỷnh có diện tích 0,81 ha. Nguồn hạt giống được thu hái ở huyện Sandan, Kompong Thom, Cămpuchia.
Thí nghiệm được trồng với cự ly 3m x 3m. Bố trí thí nghiệm xây dựng vườn giống theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 30 gia đình trên 3 lần lặp lại, tương ứng với mỗi gia đình 1 ô với kích thước 9 m x 9m. Cây con khi trồng đạt 13 tháng tuổi, đường kính cổ rễ là 6mm, chiều cao bình quân là 52cm (CTSP, FA, DANIDA, 2003). Năm 2008, Moy Ratha đã nghiên cứu đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống của 15 loài cây bản địa tại khu khảo nghiệm ở Khbal Chhay, sau 3 năm trồng cho thấy Huỷnh là một trong những loài cây có triển vọng và được khuyến cáo để trồng rừng (Moy Ratha, 2008).
- Về nhân giống: Đối với kỹ thuật nhân giống cây Huỷnh, trên thế giới chủ yếu là nhân giống hữu tính từ hạt, chưa có kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp vô tính (giâm hom và nuôi cấy mô). 9 * Thu hái và chế biến hạt giống: Hạt giống Huỷnh có thể dễ dàng thu hái bằng cách nhặt quả đã rơi xuống mặt đất hoặc trèo lên cây và rung cành để quả rụng xuống đất rồi nhặt. Thu hái hạt giống tại các lâm phần trên 10 tuổi (Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu 2004). Hạt thu hái về cần phải được phơi khô để bảo quản hạt giống.
Độ ẩm của hạt Huỷnh sau khi phơi khô khoảng 9 - 10%. Sau khi phơi khô khối lượng hạt sẽ giảm khoảng 50%. Tiến hành cắt bỏ cánh quả. Hạt có thể mất khả năng nảy mầm trong vòng 6 tháng.
Bảo quản hạt Huỷnh ở nhiệt độ 5-100C có thể duy trì khả năng nảy mầm trong hơn 1 năm (Joker, D. 2 - 2,5 kg quả Huỷnh tươi sau khi chế biến sẽ được 1,0 kg quả khô (Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu, 2004). Theo Schmidt, Lars Holger; Nguyen, Xuan Lieu (2004), hạt Huỷnh không có trạng thái ngủ đông, do lớp vỏ quả hạn chế sự hấp thụ nước nên khi xử lý hạt cần loại bỏ lớp vỏ quả và ngâm trong nước ấm 350C trong 8 giờ có thể làm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt giống. Hạt sau khi xử lý được gieo trên luống hoặc gieo vào bầu đất, sau đó phủ lớp đất mỏng lên hạt đã gieo khoảng 1cm, hạt giống bắt đầu nảy mầm sau 7 ngày và kết thúc sau 20 ngày kể từ khi gieo.
Tỷ lệ nảy mầm đạt trên 70% đối với hạt mới thu hái. Nghiên cứu kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng Những thành tựu nghiên cứu về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng Huỷnh còn hết sức khiêm tốn, chủ yếu mới được rút ra từ hoạt động nghiên cứu thực nghiệm mô hình. Tại Campuchia, Huỷnh được trồng thuần loài với khoảng cách 3mx4m, tương đương với mật độ 830 cây/ha và không áp dụng che bóng có tỷ lệ sống trong năm đầu đạt trên 60% (Moon cs, 2011). Kết quả đánh giá khảo nghiệm tại khu vực phòng hộ đầu nguồn Kbal Chahay (lượng mưa bình quân năm khoảng 3000 mm) cho thấy Huỷnh ở giai đoạn 10 tuổi đạt 12m chiều cao và đường kính D1,3 là 20cm, lượng tăng trưởng bình quân năm là 10 - 13 m3/ha (Kha, L.
10 Làm cỏ được khuyến cáo để thúc đẩy sự phát triển của cây con trong giai đoạn đầu sau khi trồng rừng. Công việc chăm sóc được tiến hành liên tục trong thời gian 5 - 7 năm cho đến khi rừng khép tán. Nếu cây trồng trong điều kiện bị che bóng thì cần phải điều chỉnh ánh sáng cho phù hợp. Trong 3 năm đầu, tiến hành chăm sóc hai lần/năm vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.
Từ năm thứ 4 đến năm thứ sáu, tiến hành mở tán và tỉa bớt cây che bóng. Vào năm thứ bảy, cần tỉa thưa, điều chỉnh mật độ và tạo không gian dinh dưỡng thích hợp cho cây trồng phát triển (Norn Narong, Kim Sobon, 2014). Tên gọi, phân loại và đặc điểm hình thái a) Tên gọi, phân loại: Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về loài cây này còn rất hạn chế, tuy nhiên các mô tả về đặc điểm hình thái, phân loại và giá trị sử dụng đều thống nhất với các nghiên cứu của các tác giả ngoài nước. Theo Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000); Nguyễn Hoàng Nghĩa (2012), Huỷnh có tên khoa học là Tarrietia cochinchinensis Pierre; tên đồng nghĩa Tarrietia javanica Blume; Heritiera cochinchinensis (Pierre) Kosterm; tên tiếng việt là Huỷnh, Huệnh, thuộc chi Tarrietia, họ Trôm (Sterculiaceae).
b) Đặc điểm hình thái: Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), Huỷnh là cây gỗ lớn cao đến 40m. Lá kép với 3 -7 lá phụ dài thon, không lông; cuống chung dài 10 - 12cm. Chùm tụ tán; hoa đơn phái; đài hình chuông, cao 3mm; hùng đài mang 10 tiểu nhụy. Manh nang 1 - 5, có cánh dài 5 - 8,5 cm; hột 1, to 2 - 3,5cm, không lông.
Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000), Huỷnh là cây gỗ lớn cao trên 30m, đường kính có thể tới 100cm. Thân tròn, thẳng, gốc có bạnh vè lớn, vỏ màu xám trắng có nhiều nhựa. Lá kép chân vịt, có 3 - 7 lá chét. Lá chét hình trứng ngược đầu có mũi nhọn, đuôi nên dần, dài 12 - 17cm, rộng 4 -8cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới phủ vẩy bạc óng ánh.
Khi còn nhỏ cây có lá đơn nguyên và xẻ thuỳ chân vịt. Hoa tự viên chùy, đơn tính, mọc nách lá, màu hồng. Đài hình chuông có 5 răng, phía ngoài phủ đầy lông hình sao. Không có tràng, không có nhị lép.
Nhị 10, chỉ nhị 11 hợp thành 1 trụ nhắng 1mm.