CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Những vấn đề chung về động lực làm việc của công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức và công chức cấp xã * Khái niệm công chức Nền công vụ của các quốc gia đã xuất hiện từ rất sớm.
Tuy nhiên, khái niệm “công chức” thật sự xuất hiện vào năm 1859 (gắn liền với nền công vụ của nước Anh). Mặc dù, thuật ngữ “công chức” xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, nhưng cho đến nay nội hàm “công chức” vẫn chưa có sự thống nhất ở các quốc gia trên thế giới. Xuất phát từ bản chất của chính trị, từ các cách tiếp cận khác nhau nên khái niệm “công chức” cũng được nhìn nhận ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau. Có quốc gia cho rằng, “công chức” là người thuần túy làm trong khu vực công; nhiều quốc gia đã mở rộng ngoại diên “công chức” gồm nhiều đối tượng hơn, có sự “giao thoa” giữa khu vực công và khu vực tư.
Dù khác nhau về cách tiếp cận nhưng một cách tổng quát, có thể nhận diện “công chức” ở các dấu hiệu cơ bản, cốt lõi như sau: Thứ nhất, công chức là bộ phận gắn bó chặt chẽ với bộ máy nhà nước. Không thể tồn tại bộ máy nhà nước nếu không có công chức. Và tất nhiên, công chức sẽ không thể trưởng thành nếu không có tổ chức bộ máy nhà nước. Có thể khẳng định, công chức là “huyết mạch” của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
Thứ hai, công chức phải có trách nhiệm ít nhất là hai phía: Trách nhiệm với quốc gia và cao hơn là trách nhiệm với Nhân dân. Có nghĩa, bản chất của công chức phải phụng sự quốc gia, phụng sự Nhân dân. Sự hài lòng của Nhân dân chính là thước đo về phẩm chất, năng lực của công chức. Ở Việt Nam, khái niệm công chức chính thức xuất hiện khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 76/SL về thực hiện quy chế công chức (ngày 20 13 tháng 05 năm 1950).
Điều này, có nghĩa ở Việt Nam thuật ngữ công chức xuất hiện sau thế giới khoảng một thế kỷ. Sau sắc lệnh số 76/SL của Hồ Chí Minh cũng có nhiều văn bản quy định về công chức nhưng cơ bản hoàn thiện là phải tới Luật Cán bộ, công chức năm 2008 [27]. Trong Luật này, đã phân biệt nội hàm ba khái niệm “cán bộ”, “công chức”, “viên chức”. Tuy nhiên, vẫn có nhiều vấn đề chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến sự lẫn lộn, đặc biệt là giữa hai khái niệm “cán bộ” và “công chức”.
Đó là lý do mà Luật cán bộ, công chức năm 2008 phải sửa đổi bằng Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019 [28]. * Khái niệm công chức cấp xã Công chức ở Việt Nam về cơ bản gồm bốn cấp: - Cấp Trung ương; - Cấp tỉnh; - Cấp huyện; - Cấp xã (xã, phường, thị trấn). Trong hệ thống thứ bậc thì công chức cấp xã là công chức có thứ bậc thấp nhất nhưng là công chức gần dân nhất và có vai trò đặc biệt nhất. Công chức cấp xã vừa có những đặc điểm của cán bộ, công chức nói chung (có đầy đủ phẩm chất, yêu cầu của cán bộ, công chức) vừa có những nét đặc thù (yếu tố địa phương).
Theo Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019, công chức cấp xã gồm các chức danh sau đây: - Trưởng công an xã nếu xã đó chưa có công an chính quy. - Chỉ huy trưởng quân sự. - Văn phòng, thống kê. - Địa chính, xây dựng, đô thị và môi trường.
- Tài chính, kế toán. - Tư pháp, hộ tịch. Như vậy, theo phân tích ở trên, nếu cấp xã chưa có công an chính quy thì sẽ có 07 chức danh công chức cấp xã, nếu cấp xã đó đã bố trí công an chính quy thì công chức cấp xã sẽ có 06 chức danh. Trong thời gian tới, theo đúng lộ trình thì trưởng công an xã phải là chính quy, do đó, về cơ bản cấp xã sẽ định hình 06 vị trí như đã phân tích ở trên [27].
Đặc điểm của công chức cấp xã Công chức cấp xã là một bộ phận của công chức nên có đầy đủ các đặc điểm của công chức, cụ thể như sau: Một là, công chức phải là công dân Việt Nam theo đúng độ tuổi quy định và phải có quốc tịch Việt Nam chứ không phải là người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài; Hai là, phải có phẩm chất chính trị vững vàng (tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội) và phẩm chất đạo đức tốt (hết lòng hết sức phụng sự Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư); Ba là, có trình độ chuyên môn phù hợp, đáp ứng được sự kỳ vọng của Nhân dân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Bốn là, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo đúng quy định của pháp luật, trước hết là Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động và yêu cầu về tính chất, quy mô, khối lượng công việc nên công chức cấp xã có những đặc điểm đặc thù như sau: Thứ nhất, công chức cấp xã là người gần dân nhất. Do đó, họ là những người có thể lắng nghe được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân một cách xác đáng, đầy đủ nhất, thực tế nhất. Đây là cơ sở rất quan trọng cho việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Mọi chủ trương, kế 15 hoạch, mọi giải pháp, định hướng sẽ không đến được với dân nếu không có công chức cấp xã đủ năng lực, phẩm chất lĩnh hội và thực hiện nó. Công chức cấp xã chính là cầu nối đặc biệt quan trọng, thể hiện tính chất quyết định sự thành bại của tổ chức trong quá trình thực thi chính sách - nhất là khi Việt Nam đang đã chuyển từ mô hình quản lý công truyền thống sang mô hình quản lý công hiện đại. Thứ hai, công chức cấp xã thường là người địa phương nên sẽ có tính chất hai mặt: Một mặt, dễ dàng hiểu được đặc thù của địa phương, tâm tư và nguyện vọng của Nhân dân, dễ thuyết phục và tạo nên sự đồng thuận (nhất là đối với các vùng mà có nhiều hương ước, có sự hiện diện của nhiều tộc người sinh sống như ở các vùng Tây Bắc, Tây Nam và Tây Nguyên của Việt Nam); mặt khác, vì là người địa phương nên rất dễ “dĩ hòa vi quý”, “bán bà con xa mua láng giềng gần”, “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”… Đây là rào cản rất lớn đối với thực hiện các chính sách của Nhà nước, có thể dẫn đến “cục bộ địa phương”, “kéo bè kết cánh”, hay thực hiện kiểu “gia đình trị”, “dòng họ trị”, “địa phương trị”…rất dễ thỏa hiệp, khó giải quyết thấu đáo, triệt để các vấn đề phát sinh trong thực tế. Cũng có thể dẫn đến việc giải quyết chưa công bằng những bức xúc, những khó khăn gặp phải của người dân trên địa bàn.
Thứ ba, công chức cấp xã là người thực hiện khối lượng công việc rất lớn. Một mặt, họ là người cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; cụ thể hóa các chỉ đạo của cấp tỉnh, cấp huyện và tổ chức thực hiện tại địa phương. Mặt khác, công chức cấp xã phải đánh giá được mức độ hài lòng, không hài lòng của Nhân dân đối với chính quyền địa phương cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có thể nói, công chức cấp xã có nhiệm vụ nặng nề nhất trong các cấp.
Thứ tư, mức độ chuyên môn hóa của công chức cấp xã thấp hơn công chức các cấp khác. Công chức cấp xã phải đảm đương nhiều công việc và có thể bị luân chuyển, điều động. Điều này, dẫn đến công chức cấp xã có khả năng thích ứng 16 công việc cao nhưng thường thiếu ổn định, tính chuyên môn thấp. Công chức cấp xã có thể đảm nhiệm nhiều công việc nên dẫn đến “cái gì cũng biết những chẳng có cai gì chuyên sâu”.
Tình trạng công chức tuyển dụng một đằng, bố trí làm việc một nẻo dẫn đến công tác tham mưu, phối hợp còn rất nhiều hạn chế ở các địa phương. Từ các đặc điểm của công chức cấp xã nêu trên, có thể thấy, công chức cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng. Cụ thể: Một là, công chức cấp xã quyết định sự thành bại của quyết sách chính trị của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước. Muốn quyết sách chính trị, chính sách công được Nhân dân tiếp nhận và thực hiện trên cơ sở đồng thuận thì công chức cấp xã phải am tường và đủ khả năng thuyết phục Nhân dân.
Nếu công chức cấp xã không đủ năng lực thì dẫu chính sách có tốt cũng khó đi vào thực tiễn cuộc sống, việc triển khai gặp khó khăn và áp dụng vào thực tiễn không đem lại hiệu quả cao. Hai là, công chức cấp xã sẽ là nơi chứng minh tính đúng đắn của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng như các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của huyện. Ba là, công chức cấp xã sẽ phản ánh được tình hình của địa phương, phản ánh được nhu cầu, nguyện vọng và ý kiến Nhân dân một cách xác đáng nhất. Đây là cơ sở rất quan trọng để các cấp có thẩm quyền điều chỉnh và ban hành các giải pháp kịp thời, phù hợp, góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương.
Động lực làm việc của công chức cấp xã 1. Khái niệm động lực làm việc cho công chức cấp xã Có nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc. Nhưng tựu trung lại, động lực làm việc là sự thúc đẩy con người làm việc, là cơ sở để tạo nên những sáng tạo, những cống hiến của người lao động. 17 Có rất nhiều loại động lực khác nhau: động lực kinh tế, động lực chính trị, động lực văn hóa… (xét từng lĩnh vực); động lực của cá nhân, động lực tập thể, động lực của dân tộc, động lực của quốc gia… (xét ở các cấp độ).