CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ LÀ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ GÂY RA 1. Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ gây ra 1. Khái niệm áp dụng pháp luật và các khái niệm liên quan * Áp dụng pháp luật Trong khoa học pháp lý, áp dụng pháp luật được hiểu là một hình thức trong bốn hình thức thực hiện pháp luật. Theo đó, thực hiện pháp luật gồm các hình thức: sử dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật, chấp hành (thi hành) pháp luật và áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật là một thuật ngữ chuyên ngành khoa học pháp lý. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, áp dụng pháp luật là hình thức của thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Mục đích của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội. Áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, về nguyên tắc, áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, mỗi cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ khác nhau có thẩm quyền áp dụng pháp luật khác nhau.
- Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính có tổ chức, quyền lực nhà nước. Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng. 8 - Thứ ba, áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. - Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động luôn được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
- Thứ năm, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo. Thông thường quy phạm pháp luật được xây dựng mang tính khuôn mẫu, trong khi quan hệ xã hội luôn có sự vận động, biến chuyển, phong phú nên đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải vận dụng áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể một cách chính xác, thuyết phục và phù hợp với quy định của pháp luật. Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Áp dụng pháp luật là một hoạt động có tính tổ chức, sử dụng quyền lực của nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào những trường hợp cụ thể, đối với từng cá nhân, tổ chức cụ thể. * Nguồn nguy hiểm cao độ và nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã mang lại sự phát triển vượt bậc, đa dạng và phong phú các phương tiện cơ giới, máy móc, thiết bị… nhằm phục vụ tốt nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của con người.
Sự hiện đại hóa các phương tiện cơ giới, thiết bị, máy móc góp phần rất lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người. Chính sự nguy hiểm tiềm ẩn rất cao của các loại tài sản này nên các nhà làm luật đã luật hóa một số loại tài sản là NNHCĐ để quy định trách nhiệm về quản lý, sử dụng của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng. Khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. 9 Từ khi BLDS năm 2015 được ban hành cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào khác quy định hoặc hướng dẫn áp dụng Điều 601 BLDS năm 2015 nói chung và đối với khoản 1 Điều này nói riêng.
Khi so sánh khái niệm NNHCĐ theo khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 với khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2005 cho thấy không có sự khác biệt, do đó, có thể áp dụng mục 1 phần III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để xác định các đối tượng được coi là NNHCĐ. Cụ thể, để xác định NNHCĐ cần phải căn cứ vào BLDS và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó. Ví dụ: Để xác định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì phải căn cứ vào Luật giao thông đường bộ. Từ những đối tượng được liệt kê tại khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành có liên quan thấy rằng NNHCĐ là những vật thể, chất thể tồn tại trong tự nhiên, xã hội mà trong quá trình tồn tại, hoạt động của nó có khả năng rất cao gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người.
Do đó, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ phải hết sức thận trọng, tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật trong việc trông giữ, bảo quản, sử dụng nó. Như vậy, NNHCĐ là những vật thể, chất thể khi hoạt động luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người nên khi quản lý, vận hành phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. NNHCĐ là PTGTVTCGĐB được xác định dựa trên quy định tại khoản 18 Điều 3 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải bao gồm: “Xe cơ giới gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”. “Ô tô chuyên dùng là ô tô có kết cấu và trang bị để thực hiện một chức năng công dụng đặc biệt, bao gồm: ô tô quét đường, ô tô tưới nước; ô tô hút chất thải, ô tô ép rác; ô tô trộn vữa; ô tô trộn bê tông; ô tô bơm bê tông; ô tô cần cẩu; ô tô thang; ô tô 10 khoan; ô tô cứu hộ giao thông; ô tô truyền hình lưu động, ô tô đo sóng truyền hình lưu động, ô tô kiểm tra và bảo dưỡng cầu, ô tô kiểm tra cáp điện ngầm, ô tô chụp X- quang, ô tô phẫu thuật lưu động và các loại ô tô tương tự”.
Đối với các phương tiện tham gia giao thông khác không được sử dụng sức kéo của động cơ như xe đạp, xe đạp điện, xe ba bánh, xe lăn, xe được di chuyển bởi sức kéo của bò, trâu, ngựa hoặc động cơ có công sức nhỏ thì không được xem là NNHCĐ. Từ các liệt kê trên, NNHCĐ là PTGTVTCGĐB là các loại xe được lắp đặt động cơ, chuyển động dựa trên lực kéo của động cơ, do con người điều khiển tuân theo những điều kiện an toàn của pháp luật về giao thông đường bộ, dùng để chở người, hàng hóa hoặc vật chuyên dụng khác. * Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ gây ra Nguyên tắc chung của pháp luật dân sự là tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Khi một chủ thể nào đó xâm phạm đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức thì phải chịu trách nhiệm dân sự.
Biểu hiện của trách nhiệm dân sự chính là việc bồi thường thiệt hại. Pháp luật dân sự Việt Nam bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc chung thì một số trường hợp được cá biệt hóa đối với trách nhiệm bồi thường, trong đó có BTTH do NNHCĐ gây ra. Thiệt hại do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra là hậu quả của vụ tai nạn giao thông đường bộ có liên quan đến PTGTVTCGĐB. Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra là do hành vi của con người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và cũng có trường hợp là do bản thân các PTGTVTCGĐB bị sự cố kỹ thuật hư hỏng bất ngờ gây ra thiệt hại.
Một khi để xảy ra tai nạn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ là PTGTVTCGĐB phải BTTH ngay cả trường hợp không có lỗi, trừ một số trường hợp được pháp luật loại trừ trách nhiệm. 11 Từ sự phân tích trên, BTTH do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra được hiểu như sau: BTTH do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra là một loại trách nhiệm dân sự BTTH ngoài hợp đồng. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ là PTGTVTCGĐB phải BTTH cho cá nhân, tổ chức khi để NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra thiệt hại. * Giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ gây ra Thiệt hại do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra khá phổ biến trong thực tế cuộc sống hiện nay.
Khi NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra thiệt hại thì trách nhiệm BTTH sẽ được đặt ra. Các chủ thể có liên quan đến thiệt hại nếu không tự thương lượng, thỏa thuận được thì phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về BTTH do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra nói riêng. Kết quả giải quyết xác định quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến thiệt hại do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra.
Trên cơ sở khái niệm áp dụng pháp luật và BTTH do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra, có thể hiểu: Giải quyết tranh chấp về BTTH do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong vụ việc phát sinh thiệt hại do NNHCĐ là PTGTVTCGĐB gây ra.