MỞ ĐẦU Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng và từ xa xƣa đến nay vẫn là một trong những vấn đề y tế lớn trên toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2022 cho biết, tính đến năm 2021 có tới 10,6 triệu ngƣời mắc bệnh lao, 1,5 triệu ngƣời chết vì bệnh lao (trong đó có tới 214 000 ngƣời nhiễm HIV).1 Bệnh lao đứng thứ 13 về các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên giới, đứng thứ 2 trong danh sách những nguyên nhân tử vong do một tác nhân gây bệnh gây ra (sau COVID-19 và trƣớc HIV).2 Mặc dù trong hai thập kỉ gần đây, bệnh lao đã đƣợc kiểm soát tốt hơn nhờ cải thiện các phác đồ điều trị, các chiến lƣợc phòng ngừa và kiểm soát nguồn lây nhƣng bệnh lao vẫn gây ra tử vong cho hơn một triệu ngƣời mỗi năm, đặc biệt ở các nƣớc thu nhập thấp.3 Hầu hết những ngƣời nhiễm vi trùng lao sẽ có đáp ứng miễn dịch hiệu quả với vi trùng lao và sẽ không có triệu chứng lâm sàng (lao tiềm ẩn). Tuy nhiên, vẫn sẽ có khoảng 10% số ngƣời nhiễm lao sẽ tiến triển thành bệnh lao thực sự với các triệu chứng lâm sàng của cơ quan mắc bệnh tƣơng ứng.4 HIV/AIDS vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu khiến bệnh nhân dễ nhiễm lao và tạo điều kiện cho lao tiềm ẩn tiến triển trở thành bệnh lao hoạt động.5 Nhiễm HIV có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lao ngay cả khi số lƣợng lympho TCD4+ bình thƣờng. Tuy nhiên, triệu chứng lâm sàng, tổn thƣơng trên X-quang ngực và kết quả vi sinh có thể sẽ khác nhau ở những bệnh nhân HIV có số lƣợng lympho TCD4+ khác nhau.
Ở bệnh nhân HIV mắc lao phổi, các xét nghiệm vi sinh tìm vi khuẩn lao trong các mẫu đàm sẽ bị giảm độ nhạy với những bệnh nhân không mắc HIV. Cụ thể, ở nhóm bệnh nhân không có HIV độ nhạy soi AFB đàm là 45-75%,6 còn ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV, độ nhạy giảm còn 29-36%.7 Đối với Gene Xpert MTB/RIF, độ nhạy chung ở nhóm bệnh nhân lao phổi có HIV là 79%, thấp hơn so với nhóm bệnh nhân không có HIV là 86%.8 Không những thế, trong nhóm bệnh nhân HIV có AFB đàm âm tính, độ nhạy của Gene Xpert MTB/RIF giảm chỉ còn 61%.8 Nhƣ vậy, sẽ có một số lƣợng không nhỏ bệnh nhân HIV sẽ đƣợc chẩn đoán. 2 lao phổi chỉ dựa vào đặc điểm lâm sàng, đặc điểm X-quang ngực và cận lâm sàng xét nghiệm máu. Hoàn cảnh này thƣờng gặp ở các bệnh viện hay cơ sở y tế tuyến tỉnh, quận/huyện, những nơi thiếu các trang thiết bị tiên tiến nhƣ các kĩ thuật liên quan đến nội soi phế quản (sinh thiết, lấy dịch phế quản,…), năng lực của khoa giải phẫu bệnh/khoa vi sinh (liên quan đến các kĩ thuật nuôi cấy vi khuẩn, máy Gene Xpert MTB/RIF, hóa mô miễn dịch dấu ấn vi trùng lao,.
Từ những yếu tố trên, sẽ dẫn đến việc chẩn đoán lao phổi ở bệnh nhân HIV trở nên khó khăn, dễ bỏ sót hoặc chẩn đoán quá mức dẫn đến điều trị quá mức hay bỏ sót các bệnh lý nguy hiểm khác liên quan đến HIV. Hơn nữa, ngoài lao phổi, tùy vào số lƣợng tế bào lympho TCD4+ mà bệnh nhân HIV còn có thể mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, làm che lấp các đặc điểm lao phổi trên X-quang ngực, cũng nhƣ với giai đoạn HIV khác nhau thì đặc điểm lâm sàng, X-quang ngực cũng khác nhau. Từ đó, tạo nên khó khăn hơn nữa khi chẩn đoán lao phổi ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, X-quang ngực và số lƣợng lympho TCD4+ ở bệnh nhân HIV mắc lao phổi mới” để hỗ trợ chẩn đoán chính xác lao phổi ở bệnh nhân HIV.
Câu hỏi nghiên cứu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân HIV mắc lao phổi mới là gì? Có mối liên quan nào giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, X-quang ngực và số lƣợng tế bào TCD4+ không?. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân HIV mắc lao phổi mới. Xác định một số mối liên quan giữa lâm sàng, cận lâm sàng và số lƣợng tế bào TCD4+.
Xác định một số mối liên quan giữa đặc điểm X-quang ngực và số lƣợng tế bào TCD4+. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan bệnh HIV/AIDS 1.1 Tình hình bệnh HIV/AIDS trên thế giới Trong năm 2021, trên thế giới có xấp xỉ 38,4 triệu ngƣời mắc HIV. Trong đó có 36,7 triệu ngƣời trƣởng thành và 1,7 triệu trẻ em (< 15 tuổi). 54% trong số đó là phụ nữ và các bé gái.9 Cũng trong năm này, ƣớc tính có tới 1,5 triệu ngƣời mắc HIV mới, giảm 32% so với năm 2010.
Trong đó, ngƣời lớn là 1,3 triệu, trẻ em là 160 000.9 Trên thế giới, hiện có khoảng 85% số ngƣời trên thế giới biết đƣợc tình trạng nhiễm HIV của bản thân. Nên vẫn còn tới 15% số ngƣời không biết tình trạng HIV của bản thân. Trong số những ngƣời biết tình trạng nhiễm HIV, có khoảng 75% ngƣời là đƣợc cung cấp ARV để điều trị.9 Trong số những ngƣời đƣợc sử dụng ARV, chỉ có 68% số ngƣời đạt đƣợc mục tiêu điều trị (đạt đƣợc mức không phát hiện đƣợc virus trong máu).9 Trong năm 2021, có tới 650 000 ngƣời chết liên quan tới AIDS, giảm 68% so với năm cao nhất là 2004 (2 triệu ngƣời chết) và giảm 54% so với năm 2010 (1,4 triệu ngƣời chết).2 Tình hình bệnh HIV/AIDS ở Việt Nam Theo số liệu 9 tháng đầu năm 2022 của Bộ Y tế, Việt Nam có khoảng 250 000 ngƣời nhiễm HIV, trong đó có gần 220 000 ngƣời nhiễm HIV đã đƣợc phát hiện và đang còn sống. Trong những năm qua, với những nỗ lực triển khai toàn diện và hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, Việt Nam đã giảm hơn 2/3 số ngƣời nhiễm mới và số ngƣời tử vong do HIV/AIDS so với 10 năm trƣớc đây.
Tỉ lệ nhiễm HIV giảm nhanh ở nhóm nghiện chích ma túy (từ 28,6% năm 2004 xuống 12,7% năm 2019) và phụ nữ bán dâm (từ 5,9% năm 2002 xuống 3,1% năm 2020); Việt Nam giữ vững mục tiêu khống chế tỉ lệ ngƣời nhiễm HIV trong cộng đồng dân cƣ ở mức dƣới 0,3% (hiện ƣớc đạt 0,26%). Tuy nhiên, đại dịch HIV/AIDS vẫn còn diễn biến phức tạp, nguy cơ quay trở lại còn cao. Theo số liệu quan sát cho thấy đại. 5 dịch HIV/AIDS có xu hƣớng gia tăng ở một số địa phƣơng; tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn còn ở mức trên 12%; đặc biệt, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ đồng tính (MSM) có xu hƣớng tăng rất nhanh trong những năm gần đây (từ 3,9% năm 2011, lên 5,1% năm 2015 và 13,3% năm 2020).
Số MSM chiếm khoảng 50% trong số ngƣời nhiễm HIV đƣợc phát hiện năm 2020, chủ yếu ở độ tuổi trẻ, đặc biệt là công nhân các khu công nghiệp và học sinh, sinh viên (cá biệt có tỉnh chiếm đến 80% tổng số trƣờng hợp nhiễm HIV đƣợc phát hiện). Cũng trong số liệu giám sát phát hiện hàng năm, nhiễm HIV đang đƣợc trẻ hóa nhanh và đƣờng lây chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn, đặc biệt là quan hệ tình dục đồng giới nam. Nhóm tuổi 15-24 tăng nhanh trong số phát hiện mới, từ 4,0% năm 2012, đến 12,9% năm 2019 và 25,6% năm 2021. Phân tích đƣờng lây trong nhóm tuổi này năm 2021 cho thấy, 89,8% lây qua đƣờng tình dục, trong đó lây qua quan hệ tình dục đồng giới nam chiếm 74,6%.3 Tổng quan virus HIV HIV (Human Immunodeficiency Virus) là virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời, thuộc họ Retrovirus và thuộc phân nhóm Lentivirus.
HIV gồm 2 loại là HIV- 1 và HIV-2. HIV-1 đƣợc tìm thấy bởi Luc Montagnier (Pháp) tìm ra vào tháng 2/1983, có độc lực mạnh, khả năng lây nhiễm cao là căn nguyên của phần lớn các trƣờng hợp nhiễm HIV trên toàn thế giới. Clavel (Pháp) tìm ra vào năm 1985, ít độc lực hơn, khả năng lây nhiễm thấp hơn HIV-1, thời gian tiến triển thành AIDS kéo dài hơn so với HIV-1, nhƣng lại gây bệnh não do HIV nhiều hơn. Trong khi HIV-1 đƣợc lan truyền khắp nơi trên thế giới (trong đó có Việt Nam), thì HIV-2 chỉ tập trung ở các nƣớc Tây Phi và Trung Phi.11 Bộ gene của Lentivirus bao gồm 2 bản sao của chuỗi đơn RNA.
HIV-1 và HIV-2 có bộ gene tƣơng tự nhƣ những virus thuộc học Retrovirus khác, gene gag dịch mã ra một bộ các protein cấu trúc bên trong lõi virus (p24, p7, p6) và chất nền (p17). Gene env dịch mã ra một bộ các glycoprotein nằm trên màng virus (gp120, gp41), với vai trò là các thụ thể nhận diện màng tế bào. Gene pol dịch mã ra các enzyme quan trọng trong việc nhân đôi virus và hình thành virus. 6 Virus HIV có kích thƣớc khoảng 100 nm, và đƣợc bao bọc bởi lớp màng giàu lipoprotein.
Màng bao bọc có các gp120 và gp41 gắn với nhau tạo thành phức hợp thụ thể màng. Vì glycoprotein bề mặt (gp120) liên kết với glycoprotein xuyên màng (gp41) không phải bằng liên kết cộng hóa trị nên gp120 dễ dàng phân tách ra khỏi gp41 và rơi ra môi trƣờng xung quanh. Do đó, chúng ta có thể phát hiện gp120 trong huyết thanh, cũng nhƣ các mô bạch huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV.4 Sinh bệnh học HIV/AIDS Quá trình nhân đôi HIV bao gồm 6 bƣớc: 1) gắn thụ thể màng và đi vào tế bào đích; 2) cởi bỏ lớp màng virus; 3) sao chép ngƣợc bộ gene RNA; 4) tạo thành phức hợp tiền-virus (có bộ gene DNA nhờ enzym sao chép ngƣợc); 5) tổng hợp và lắp rắp các protein virus; 6) nảy chồi và xuất bào.11 Tế bào đích gây bệnh của virus HIV là những tế bào có thụ thể CD4+ nói chung chứ không chỉ riêng tế bào lympho TCD4+. Glycoprotein gp120 của virus gắn với glycoprotein thụ thể CD4+, loại thụ thể này có ở lympho T trong tuần hoàn, lympho T trong tủy xƣơng và tuyến ức, mono bào, đại thực bào, bạch cầu ái toan, tế bào đuôi gai và các tế bào thần kinh đệm ở hệ thống thần kinh trung ƣơng.
Chuỗi DNA đƣợc tạo ra trong quá trình sao chép ngƣợc chỉ có thể tích hợp vào bộ gene của tế bào đích đang hoạt hóa. Do đó, việc nhân đôi và sản sinh ra các virus mới chỉ xảy ra ở các tế bào CD4+ đang hoạt động. Virus HIV sẽ tồn tại lâu dài trong những tế bào này, những tế bào này sẽ là nguồn chứa virus mạn tính, tạo điều kiện cho bệnh tiến triển. Những tế bào này còn có khả năng lan truyền virus cho những tế bào miễn dịch kế cận, cũng nhƣ các tế bào niêm mạc âm đạo hay trực tràng.