CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG KHI HÀNH LÝ CỦA HÀNH KHÁCH BỊ THẤT LẠC HOẶC BỊ MẤT CẮP 1. Khái quát về người vận chuyển hàng không 1. Khái niệm người vận chuyển hàng không Khi hội nhập quốc tế trở thành xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới, ngành vận tải hàng không dân dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, so với những phương thức vận tải bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy thì vận tải bằng đường hàng không có những ưu điểm vượt trội hơn như thời gian vận chuyển ngắn, không bị ảnh hưởng bởi những khó khăn về mặt địa hình, ít rủi ro hơn nên vận tải hàng không trở thành cầu nối cho việc hội nhập quốc tế, giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, muốn phát huy được vai trò của hoạt động vận tải hàng không trong giao thương quốc tế thì các quốc gia cần phải đảm bảo hệ thống pháp luật của quốc gia phải tuân thủ, tương thích với hệ thống các quy định, quy tắc chung thống nhất về vận tải hàng không quốc tế.
Việt Nam chúng ta cũng đã tích cực hội nhập sâu rộng với các quốc gia trong khu vực và quốc tế, tuy nhiên để quá trình hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi và nhanh hơn, Việt Nam cần phát huy hơn nữa vai trò cầu nối của vận tải hàng không, đưa ngành tải hàng không dân dụng trở thành ngành kinh tế chiến lược. Muốn vậy, Việt Nam phải thường xuyên rà soát, cập nhật, bổ sung, sửa đổi hệ thống pháp luật, thể chế, chính sách liên quan đến hoạt động vận tải hàng không cho phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại thế giới và các tổ chức hợp tác quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, đây là một trong những luật chuyên ngành có nhiều yếu tố liên quan đến nước ngoài được ban hành sớm nhất. Từ khi được ban hành, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam đã trải qua ba lần sửa đổi, bổ sung, 8 Luật Hàng không dân dụng hiện hành đang được áp dụng là Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Qua đó, nhiều tư tưởng pháp lý, chế định pháp luật trong hàng không dân dụng quốc tế đã được nghiên cứu tiếp nhận vào hệ thống pháp luật về hàng không dân dụng của Việt Nam để nhằm đảm bảo tính tương thích và tuân thủ pháp luật quốc tế về vận tải hàng không dân dụng, đồng thời tạo động lực thúc đẩy sự tham gia của các thành phần kinh tế vào lĩnh vực hàng không dân dụng. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành đã quy định khá bao quát các lĩnh vực trong hoạt động hàng không dân dụng, tuy nhiên vẫn có nhiều khái niệm chưa được Luật này đưa ra cụ thể. Điển hình như Luật chưa đưa ra định nghĩa khái quát về “người vận chuyển hàng không”, học viên đi từ việc hệ thống, nghiên cứu các khái niệm vận chuyển hàng không và các quy định có liên quan để đưa ra khái niệm “người vận chuyển hàng không”. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành đưa ra khái niệm “Vận chuyển hàng không” như sau: “Vận chuyển hàng không là việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi, thư bằng đường hàng không.
Vận chuyển hàng không bao gồm vận chuyển hàng không thường lệ và vận chuyển hàng không không thường lệ”1. Trong đó: vận chuyển hàng không thường lệ là việc vận chuyển trên các chuyến bay được mở ra để công chúng sử dụng, theo lịch bay đã được công bố và được thực hiện đều đặn; vận chuyển hàng không không thường lệ là việc vận chuyển bằng đường hàng không mà không có đủ các yếu tố của vận chuyển hàng không thường lệ. Theo Phụ lục IV, Luật Đầu tư năm 2020 thì hoạt động kinh doanh vận tải hàng không là ngành kinh doanh có điều kiện, do đó, doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này phải có giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không. Để được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không thì doanh nghiệp phải đáp ứng được các 1 Khoản 1 Điều 109 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 39 Điều 1 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi năm 2014 9 điều kiện được quy định tại Điều 110 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp phải có giấy phép đăng ký kinh doanh và ngành kinh doanh chính được cấp phép là vận chuyển hàng không.
Thứ hai, doanh nghiệp phải bảo đảm có đủ số lượng tàu bay khai thác2. Thứ ba, doanh nghiệp muốn kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không phải có cơ cấu tổ chức phù hợp để đảm trách việc thực hiện các hoạt động bảo đảm an ninh, an toàn, khai thác, bảo dưỡng tàu bay, khai thác mặt đất… có đội ngũ nhân viên được đào tạo, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép, chứng chỉ phù hợp với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng không, khai thác tàu bay. Thứ tư, căn cứ vào số lượng tàu bay của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải đáp ứng quy định về mức vốn tối thiểu. Thứ năm, dựa vào định hướng phát triển ngành HKDD và theo nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không phải xây dựng phương án kinh doanh và chiến lược phát triển phù hợp.
Thứ sáu, doanh nghiệp cần thiết lập trụ sở chính và nơi kinh doanh chính tại Việt Nam. Nếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì ngoài những điều kiện trên còn phải đáp ứng được điều kiện: Thứ nhất, tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật. Thứ hai, người đại diện theo pháp luật phải là công dân Việt Nam và số lượng người nước ngoài trong bộ máy điều hành không được vượt quá một phần ba của tổng số thành viên. 2 Điều 6 Nghị định 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về phương án bảo đảm có tàu bay khai thác 10 Do đặc thù của vận tải hàng không là vận chuyển bằng tàu bay, việc sử dụng phương tiện di chuyển trên không trung đòi hỏi đáp ứng các điều kiện khắt khe về mặt kỹ thuật bởi vì việc dừng chuyển động đột ngột của phương tiện khi đang hoạt động trên không trung dẫn đến tàu bay sẽ bị rơi xuống gây ra tổn thất rất lớn về con người và tài sản, đây cũng là sự khác biệt giữa vận tải hàng không với các loại hình vận tải khác.
Vì vậy, pháp luật yêu cầu người vận chuyển hàng không phải đáp ứng các điều kiện về kỹ thuật thông qua việc yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không phải có tổ chức bộ máy, có nhân viên được cấp giấy phép, chứng chỉ phù hợp khai thác tàu bay, kinh doanh vận chuyển hàng không3. Theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành thì người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không4. Người vận chuyển gồm có: người vận chuyển theo hợp đồng và người vận chuyển thực tế. Trong đó: Người vận chuyển theo hợp đồng là người giao kết hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không với hành khách, người gửi hàng hoặc đại diện của hành khách, người gửi hàng5; Người vận chuyển thực tế là người thực hiện toàn bộ hoặc một phần vận chuyển theo sự uỷ quyền của người vận chuyển theo hợp đồng nhưng không phải là người vận chuyển kế tiếp6.
Còn theo quy định tại Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 14/2015/TT-BGTVT ngày 27 tháng 4 năm 2015 của Bộ Giao thông vận tải Quy định việc bồi thường ứng trước không hoàn lại trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không của Bộ Giao thông vận tải (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 21/2020/TT-BGTVT ngày 28/9/2020) thì: “Người vận chuyển” là hãng hàng không khai thác thực tế các chuyến bay. 3 Nguyễn Ngọc Thái (2010), Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 27 4 Khoản 1 Điều 128 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) 5 Khoản 1 Điều 151 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) 6 Khoản 1 Điều 151 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) 11 Dựa vào những khái niệm trên, học viên đưa ra khái niệm về người vận chuyển hàng không như sau: Người vận chuyển hàng không là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không thực hiện hoặc cam kết thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi, thư bằng đường hàng không. Đặc điểm của người vận chuyển hàng không Người vận chuyển hàng không có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, người vận chuyển hàng không phải là tổ chức, điều này được quy định tại Khoản 1 Điều 128 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau: “người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không”.
Thứ hai, người vận chuyển hàng không phải là doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không. Điều kiện để được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không bao gồm: có giấy phép đăng ký kinh doanh với ngành kinh doanh chính là vận chuyển hàng không; có phương án bảo đảm có tàu bay khai thác; có tổ chức bộ máy, có nhân viên được cấp giấy phép, chứng chỉ phù hợp bảo đảm khai thác tàu bay, kinh doanh vận chuyển hàng không; đáp ứng điều kiện về vốn; có phương án kinh doanh và chiến lược phát triển sản phẩm vận chuyển hàng không phù hợp với nhu cầu của thị trường và quy hoạch, định hướng phát triển ngành hàng không; có trụ sở chính và địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam. Nếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì ngoài những điều kiện trên còn phải đáp ứng được điều kiện: bên nước ngoài góp vốn với tỷ lệ theo quy định của Chính phủ; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là công dân Việt Nam và không quá một phần ba tổng số thành viên trong bộ máy điều hành là người nước ngoài7.