MỞ ĐẦU Phẫu thuật cắt tuyến mang tai từ lâu đã là nền tảng trong điều trị u tuyến mang tai, bao gồm cả u lành và u ác.1 Sự phát triển của các kĩ thuật xâm lấn tối thiểu và xu hướng hạn chế tối đa các biến chứng lâu dài sau phẫu thuật là những mục tiêu chính trong phẫu thuật tuyến mang tai hiện nay. Trước kia, các phẫu thuật viên chỉ quan tâm nhiều đến biến chứng liệt mặt do tổn thương dây thần kinh mặt trong quá trình phẫu thuật. Trong nhiều năm trở lại đây, các phẫu thuật viên không ngừng nghiên cứu, cải tiến phương pháp phẫu thuật với mong muốn ngày càng tối ưu điều trị, giảm thiểu tối đa các biến chứng khác của phẫu thuật tuyến mang tai. Một trong những biến chứng đó là rối loạn cảm giác da vùng tai và quanh tai do tổn thương dây thần kinh tai lớn trong quá trình phẫu thuật.
Việc rối loạn cảm giác da ở vùng này mang đến những khó chịu cho bệnh nhân trong các hoạt động hàng ngày như khi đeo bông tai, đeo tai nghe, mang máy trợ thính, nguy cơ bị bỏng và chấn thương cao hay cảm giác khó chịu khi được hôn hay vuốt ve vùng tai và quanh tai.2 Thần kinh tai lớn là một phần của đám rối cổ nông, xuất phát từ rễ thần kinh tủy sống C2 – C3. Thần kinh này có thể được xác định trong lúc bóc tách vạt da tại vị trí điểm McKinney (McKinney’s point). Điểm McKinney được mô tả là điểm nằm ở giữa bụng cơ ức đòn chũm ở vị trí 1/3 trên, phía dưới ống tai ngoài 6,5 cm.3 Trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai với đường rạch da tiêu chuẩn, bóc tách dọc theo thần kinh tai lớn như một sự hướng dẫn để phẫu thuật viên dễ dàng xác định được bờ trước cơ ức đòn chũm, tĩnh mạch cảnh ngoài và bờ dưới tuyến mang tai. Dây thần kinh tai lớn thường sẽ tận cùng bởi nhánh trước và nhánh sau.
Nhánh trước chi phối cảm giác cho mặt trước vành tai và vùng mang tai, đồng thời cũng có thể cho nhánh nối với thần kinh mặt trong tuyến mang tai. Nhánh sau chi phối cảm giác cho vùng dái tai, góc hàm và vùng mỏm chũm, nối với nhánh chẩm bé. Bảo tồn thần kinh tai lớn là không bắt buộc trong quá trình phẫu thuật cắt tuyến mang tai. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nghiên cứu nhấn mạnh lợi ích của việc bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn với mong muốn phục hồi nhanh chóng cảm giác.
2 vùng chi phối của dây thần kinh tai lớn sau phẫu thuật.4-6 Các nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới vẫn chưa có kết luận đầy đủ về đặc điểm giải phẫu của dây thần kinh tai lớn và kết quả của việc bảo tồn nhánh sau thần kinh tai lớn trong phẫu thuật u tuyến mang tai. Vậy câu hỏi đặt ra là: ―Đặc điểm giải phẫu của dây thần kinh tai lớn trong phẫu thuật tuyến mang tai, làm thế nào để bảo tồn và liệu việc bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn có quá khó khăn?‖, ―Tỉ lệ dị cảm ở bệnh nhân sau phẫu thuật tuyến mang tai có bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn như thế nào?‖ và ―Khả năng hồi phục cảm giác ở những bệnh nhân này sau phẫu thuật là bao nhiêu?‖. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu ―Đánh giá kết quả bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh Viện Đại Học Y Dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh từ 2022-2023‖. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Đánh giá kết quả bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai.
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT: 1. Mô tả đặc điểm giải phẫu dây thần kinh tai lớn đoạn vùng cổ sau khi ra khỏi bờ sau cơ ức đòn chũm trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai. Xác định tỉ lệ dị cảm và hồi phục cảm giác vùng da chi phối bởi dây thần kinh tai lớn ở những bệnh nhân sau phẫu thuật u tuyến mang tai có bảo tồn nhánh sau dây thần kinh tai lớn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
GIẢI PHẪU HỌC TUYẾN MANG TAI 1. Vị trí và phân chia tuyến mang tai Tuyến mang tai là tuyến đôi và cũng là tuyến nước bọt lớn nhất, nặng từ 14 – 28 gram, hình tháp bờ không đều với đáy hướng ra ngoài. Vị trí tuyến nằm trong khoang tuyến mang tai (parotid space), ngay dưới cung gò má, ngay dưới và trước của lỗ ống tai ngoài. Một phần tuyến mang tai nằm phía trước và một phần nằm phía sau cành xương hàm dưới, nằm phủ bên ngoài phần sau cơ cắn, phần lớn lấp đầy khoảng trống giữa cành xương hàm dưới và bờ trước cơ ức đòn chũm.7 Cơ ức đòn chũm là một mốc giải phẫu vô cùng quan trọng trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai (parotidectomy).
Tuyến mang tai có dạng hình tháp có 3 mặt, 3 bờ và 2 cực: Mặt ngoài: chỉ có da và mạc tuyến mang tai (parotid fascia) che phủ, trong tổ chức dưới da có các nhánh của thần kinh tai lớn và các hạch bạch huyết nông. Mặt này tuyến nằm rất nông nên khi tuyến bị viêm sưng sẽ biểu hiện rất rõ (trong bệnh quai bị). Mặt trước: áp vào bờ sau ngành lên của xương hàm dưới và cơ cắn, cơ chân bướm trong và dây chằng chân bướm hàm. Mặt này tuyến còn liên quan với bó mạch hàm trên và dây thần kinh tai thái dương ở ngang mức khuyết cổ xương hàm dưới.
Mặt sau: liên quan với mỏm chũm, giáp với bờ trước cơ ức đòn chũm, bụng sau cơ hai bụng, mỏm trâm và các cơ trâm. Động mạch cảnh ngoài sau khi lách qua khe giữa cơ trâm lưỡi và cơ trâm móng, đi vào mặt này rồi chui vào trong tuyến. Động mạch và tĩnh mạch cảnh trong ở trong và sau hơn tuyến mang tai, ngăn cách với tuyến bởi mỏm trâm và các cơ trâm. Thần kinh mặt từ lỗ trâm chũm đi xuống cũng chui vào trong tuyến ở phần sau trên của mặt này.
5 Bờ trước: có ống tuyến mang tai thoát ra (ống Stenon). Ở trên ống tuyến đôi khi gặp tuyến mang tai phụ (có trong khoảng 20% các trường hợp); các nhánh của dây thần kinh mặt và động mạch ngang mặt thoát ra khỏi tuyến dọc bờ này. Bờ sau: nằm dọc theo tai ngoài, mỏm chũm và bờ trước cơ ức đòn chũm. Bờ trong: là nơi giao tiếp giữa mặt trước và mặt sau, nằm dọc dây chằng trâm hàm dưới.
Cực trên: nằm giữa khớp thái dương hàm (ở trước) và ống tai ngoài (ở sau; liên quan với bó mạch thái dương nông và dây thần kinh tai thái dương. Cực dưới: nằm giữa cơ ức đòn chũm và góc hàm dưới, liên quan ở trong với động mạch cảnh trong, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh hạ thiệt. Tuyến mang tai được phân chia thành thùy nông và thùy sâu, phân cách với nhau bằng eo tuyến, là nơi bao quanh thần kinh mặt và các nhánh của nó. Thùy nông chiếm khoảng 70 – 80% toàn bộ mô tuyến, được bao phủ bởi mạc tuyến mang tai tạo bởi lá nông mạc cổ sâu.
Thùy sâu nằm cạnh họng, từ cành đứng của xương hàm dưới đến mỏm trâm. Thùy sâu một phần nằm sau xương hàm dưới có kích thước thay đổi, trải dài vào phần mô lỏng lẻo của vùng họng ở phía trên, có liên quan chặt chẽ với động mạch cảnh ngoài và tĩnh mạch hàm trong. U tuyến mang tai phát sinh từ thùy sâu có khả năng lan vào khoang cạnh họng, đáy sọ và đạt đến kích thước lớn trước khi có biểu hiện lâm sàng.8 Ống tuyến mang tai (ống Stensen) dài khoảng 4 – 7 cm, xuất phát từ bờ trước của thùy nông, qua mặt trước cơ cắn, uốn cong theo bờ trước cơ này xuyên qua khối mỡ má, cơ mút và đổ vào hốc miệng bằng một lỗ nhỏ đối diện với răng cối hàm trên thứ hai.7 Nhánh gò má và nhánh má của dây thần kinh VII có thể đi băng qua về phía ngoài ống tuyến mang tai. Tuyến mang tai được phủ bởi một lớp mạc tuyến mang tai được tạo thành từ lá nông mạc cổ sâu.
Sự hiện diện của lớp mạc này có hai ý nghĩa: lớp cân thường dày. 6 và khó kéo căng do đó khi có sự gia tăng áp lực trên bề mặt tuyến cũng như có tắc nghẽn trong nhu mô thì việc giải áp sớm rất quan trọng. Mặt khác, trong khi lớp mạc bao phủ gần như kín phần nhu mô tuyến thì nó lại có thể lỏng lẻo hoặc có dạng sàng ở vùng mỏm trâm – hàm dưới nhờ vậy có thể giảm được áp lực từ mô tuyến đẩy vào khoang cạnh họng. Giải phẫu tuyến mang tai và các nhánh thần kinh mặt.9 n Surgical anatomy of the head and neck” 1.
Mạch máu và dẫn lưu bạch huyết Có rất nhiều động mạch cung cấp máu cho vùng mang tai. Tuyến mang tai nhận máu nuôi từ động mạch mặt ngoài, động mạch chẩm, động mạch sau tai, động mạch hàm trên trong, động mạch ngang mặt và động mạch thái dương nông. Dẫn lưu tĩnh mạch của tuyến mang tai đi đôi với hệ động mạch. Cấu trúc tĩnh mạch quan trọng ở tuyến mang tai là tĩnh mạch sau hàm (retromandibular vein).
Tĩnh mạch sau hàm được hình thành trong tuyến mang tai do tĩnh mạch thái dương nông (superficial temporal vein) và tĩnh mạch hàm trên (maxillary vein) hợp thành. Khi đi xuống phần thấp của tuyến mang tai, tĩnh mạch sau hàm chia làm 2 nhánh: Nhánh trước đi hướng về phía trước hợp với tĩnh mạch mặt (facial vein) thành tĩnh mạch mặt chung rồi đổ vào tĩnh mạch cảnh trong; nhánh sau đi xuyên qua lớp nông. 7 mạc cổ sâu trước khi hợp với tĩnh mạch sau tai hình thành nên tĩnh mạch cảnh ngoài.10 Vị trí tĩnh mạch sau hàm quan trọng vì nó liên quan mật thiết với thần kinh mặt. Khi đi từ dưới lên trên, tĩnh mạch này là một điểm mốc để nhận biết các nhánh của thần kinh mặt.
Giải phẫu mạch máu liên quan vùng tuyến mang tai.10 n: Anatomy of the salivary glands” Tuyến mang tai có mạng lưới bạch huyết phong phú ở trong nhu mô và vùng ngoại vi của tuyến. Các mạch bạch huyết hướng tâm có thể đi trực tiếp vào các hạch bạch huyết trong nhu mô tuyến mang tai mà không liên quan đến những hạch bạch huyết cạnh tuyến. Nhóm hạch bạch huyết cạnh tuyến quan trọng nhất nằm ở vùng trước và trên gờ bình tai, nằm trên mạc cổ nông, nhận dẫn lưu bạch huyết từ da vùng thái dươn, phần trên khuôn mặt và phần trước của tai ngoài.