phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo…nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về huy động tiền gửi dân cƣ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động tiền gửi dân cƣ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Huyện Khoái Châu. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng huy động tiền gửi dân cƣ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Huyện Khoái Châu. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI DÂN CƢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại Theo luật các TCTD thì: “Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”. Trong đó: “Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của luật pháp để hoạt động kinh doanh tiền tệ, thực hiện các dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.” (Luật các TCTD sửa đổi năm 2004) “Hoạt động ngân hàng là HĐKD tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Các đặc trƣng của Ngân hàng thƣơng mại Thứ nhất, hoạt động của các NHTM luôn chịu sự giám sát và kiểm soát, chặt chẽ từ các cơ quan chức năng.
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh trên lĩnh vực chịu nhiều rủi ro, có mạng lƣới rộng nên bất cứ hoạt động nào của ngân hàng cũng tác động đến các hoạt động của nền kinh tế. Do đó, NHTM phải chịu sự giám sát và kiểm soát chặt chẽ của hệ thống các văn bản phát luật. Các quy định pháp lý đối với NHTM đƣợc áp dụng trên nhiều mặt của HĐKD nhƣ: dự trữ bắt buộc, vốn kinh doạnh, các điều kiện cần và đủ để kinh doanh, yếu cầu về trình độ và đạo đức của ngƣời lãnh đạo ngân hàng, bảo hiểm tiền gửi, phân loại nợ, các chỉ số an toàn trong hoạt động, trích lập dự phòng rủi ro, việc sử dụng vốn để đầu tƣ. Bất cứ doanh nghiệp nào có tỷ lệ đòn bẩy tài chính càng lớn sẽ mức độ rủi ro càng cao.
Bên cạnh đó, nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn của các NHTM lại là tiền đi vay trên thị trƣờng với đặc điểm có thể rút ra trƣớc hạn với khối lƣợng khó xác 9 định. Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng không đƣợc bảo vệ quyền sáng chế và có sự phức tạp. Hơn nữa, các hoạt động của NHTM chủ yếu dựa trên sự cam kết trong khi nguồn vốn chƣa thực sự đƣợc chuyển giao dẫn đến sự đa dạng và phong phú hoạt động ngoại bảng. Đây là điểm hoàn toàn khác so với các doanh nghiệp thông thƣờng khách khác.
Do đó, hoạt động của các NHTM luôn chịu nhiều rủi ro hơn các lĩnh vực kinh doanh khác. Rủi ro mà các NHTM phải đối mặt rất phức tạp, đa dạng, dễ lan truyền ở mức độ cao. Rủi ro trong hoạt động của các NHTM bao gồm rủi ro thị trƣờng, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động nhƣ: rủi ro đạo đức, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, … Thứ hai, Các NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Các Ngân hàng hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau dẫn đến chỉ cần một NHTM gặp rủi ro là có thể làm sụp đổ toàn bộ ngân hàng và dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống tài chính. Thứ ba, về đặc điểm tài sản và cấu trúc tài chính: cấu trúc tài sản của các ngân hàng khá đặc biệt với quy mô lớn về cả tổng tài sản và vốn chủ sở hữu và hệ số nợ rất cao.
Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của NHTM phần lớn lại là nợ đƣợc huy động từ bên ngoài thông qua mạng lƣới chi nhánh rộng lớn. Điểm đặc biệt trong cấu trúc tài sản của NHTM là tỷ trọng tài sản tài chính. Tài sản tài chính luôn ở mức cao nhất trong khi lƣợng tổng tài sản của các NHTM với hình thái đơn giản nhƣ giấy tờ hay dữ liệu điện tử. Ngoài ra, các NHTM luôn có xu hƣớng nghiên cứu ra các công cụ tài chính và sản phẩm mới.
Thứ tư, Ngân hàng là một ngành đặc thù đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi về mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, xã hội,. Chỉ một biến động nhỏ hay một nguồn thông tin không chính thống thì gần nhƣ lập tức tác động đến toàn bộ thị trƣờng tài chính, từ đó ảnh hƣởng trực tiếp đến toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Trong công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô, việc nắm bắt đƣợc nguyên lý hoạt động và sự ảnh hƣởng của các yếu tố với nhau trong hệ thống tài chính là vấn đề cốt lõi, quyết định thành bại. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thƣơng mại.
Hoạt động của các NHTM vô cùng quan trọng và không thể thiếu đối với nền kinh tế bởi các NHTM có các chức năng cơ bản gồm: Chức năng trung gian tài chính, Chức năng tạo tiền và Chức năng trung gian thanh toán. Các chức năng trên đƣợc thể hiện thông qua các hoạt động của ngân hàng nhƣ: Hoạt động HĐV, sử dụng vốn và các nghiệp vụ khác. HĐV là hoạt động cơ bản nhƣng vô cùng quan trọng đối với các NHTM, có vai trò quyết định đến quy mô cũng nhƣ năng lực hoạt động của từng ngân hàng, là sơ sở để ngân hàng tiến hành các HĐKD khác nhƣ: Hoạt động đầu tƣ, cho vay, thực hiện các hoạt động khác. Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn, sự ra đời của các TCTC cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng khiến cho việc HĐV để thực hiện các HĐKD của các NHTM ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn, đặc biệt là cách thức để có đủ nguồn vốn để HĐKD trong môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt.
HĐV của ngân hàng đƣợc thông qua các hình thức nhƣ: Đi vay NHNN và các TCTD: Đây là hoạt động vay vốn ngắn hạn của các NHTM thông qua thị trƣờng liên ngân hàng, đáp ứng yêu cầu thanh khoản khi các ngân hàng mất tính thanh khoản tạm thời. Thời hạn của các khoản vay này thƣờng rất ngắn (từ vài giờ đến 1 tuần). Nhận tiền gửi từ các TCTD, KHCN, và các tổ chức khác dƣới dạng tiền gửi tích kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền gửi của KH,…. Phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và GTCG để HĐV từ các cá nhân, tổ chức ở trong nƣớc và ngoài nƣớc.
Nghiệp vụ sử dụng vốn. Các nguồn vốn đƣợc huy động với số lƣợng và kỳ hạn khác nhau sẽ đƣợc NHTM tập hợp, phân bổ và sử dụng vào các HĐKD của ngân hàng. Một phần của nguồn vốn đƣợc để dƣới dạng tiền mặt, phần còn lại của nguồn vốn đƣợc sử dụng vào các HĐKD nhằm sinh lời. Có thể nói, HĐV là hoạt động tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cho các ngân 11 hàng.
Hoạt động đầu tƣ và hoạt động cho vay là 2 nghiệp vụ chính của nghiệp vụ sử dụng vốn. Hoạt động cho vay: Đối với các NHTM truyền thống thì đây là nghiệp vụ cơ bản nhất và quan trọng nhất để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Bản chất của hoạt động này là việc ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng cho một bên thứ hai một lƣợng vốn nhất định theo nhu cầu của bên thứ hai với khoảng thời gian và “chi phí vay vốn” xác định để thu lãi. Phân loại theo đối tƣợng thì hoạt động cho vay gồm: cho vay KHCN, cho vay KHDN nhỏ và vừa, cho vay doanh nghiệp lớn.
Phân loại theo thời hạn thì hoạt động cho vay gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Theo lĩnh vực cho vay gồm: nông nghiệp, đầu tƣ, tiêu dùng, …. Trong thời gian gần đây, cho vay tiêu dùng đang trở thành xu thế cho vay của các NHTM. Đầu tư: Là hoạt động mà ngân hàng sẽ mua và nắm giữ các loại chứng khoán với mục đich sinh lời, đa dạng hóa và phân tán rủi ro.
Lợi nhuân từ việc nắm giữ trái phiểu gồm các khoản lợi tức và chêch lêch giá khi ngân hàng bán lại chứng khoán chƣa đến hạn. Ngoài ra, để gia tăng thu nhập, ngân hàng cũng tiến hành các hoạt động nhƣ: chiết khấu GTCG, bảo lãnh, góp vốn liên doanh, hoạt động cho thuê tài chính, … Các nghiệp vụ khác. Ngoài hai hoạt động trên, các NHTM còn thực hiện một số nghiệp vụ nhằm sinh lời nhƣ: kinh doanh ngoại tệ, cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các công cụ của thị trƣờng tiền tệ; uỷ thác và nhận uỷ thác;, tƣ vấn tài chính,… Các hoạt động này giúp ngân hàng đa dạng hoá và bổ sung thêm vào danh sản phẩm của mình, đáp ứng các nhu cầu thay đổi ngày càng cao của khách hàng, tạo ra sự linh hoạt và đem lại nguồn nhập cho ngân hàng để ngân hàng duy trì và phát triển. Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.
Các hình thức huy động vốn của NHTM Đi vay Đối với các NHTM, nguồn vốn tiền gửi huy động từ khách hàng luôn là nguồn quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, các ngân hàng phải đi 12 vay từ NHNN và các TCTD thông qua thị trƣờng liên ngân hàng. Khi các ngân hàng thiếu hụt thanh khoản tạm thời, để đảm bảo HĐKD diễn ra, các ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trƣờng liên ngân hàng hoặc NHNN thông qua hoạt động cấp vốn, tài cấp vốn, cầm cố các GTCG trong thời gian rất ngắn (từ vài giờ đến vài tuần). Đây là khoản vay trong trƣờng hợp các NHTM thiếu hụt dự trữ thông qua hình thức tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn.
Thông thƣờng, NHNN cho các NHTM vay theo một hạn mức nhất định do NHNN quy định hoặc thực hiện chiết khấu cho những GTCG có tính thanh khoản cao, thời gian nắm giữ ngắn và phù hợp với CSTT của NHNN trong từng giai đoạn phát triển. Vay các tổ chức tín dụng khác. Đây là hoạt động điều chuyển vốn giữa các NHTM và các TCTD với nhau qua thị trƣờng liên ngân hàng. Những ngân hàng có nguồn vốn chƣa sử dụng đến sẽ cho những ngân hàng đang cần vốn vay với mức lãi suất theo quy định của NHNN nhằm tìm kiếm lợi nhuận.