CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System - HIS) Dù quy mô các bệnh viện là rất khác nhau, trong từng bệnh viện lại có chức năng cụ thể và trọng tâm chuyên môn khác nhau, nhưng các dòng thông tin và yêu cầu về thông tin ở các bệnh viện về cơ bản là giống nhau. Trước hết, đó là dòng thông tin quản lý – liên quan đến nhân sự; quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất; quản lý người bệnh; quản lý dược phẩm, phần cơ bản và đặc trưng nhất trong y tế.
Thứ hai là dòng thông tin liên quan đến người bệnh – trong đó phân ra người bệnh nội trú và người bệnh ngoại trú, với khu vực cận lâm sàng là khu vực dùng chung cho cả hai dòng người bệnh này. Tất cả những thông tin này chứa đựng trong Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System – HIS). Theo thống kê, khoảng 60%-70% thông tin thường được truy cập trong bệnh viện liên quan đến hệ thống này (11) Mặc dù chỉ cho phép quản lý các thông tin y tế dạng văn bản nhưng Hệ thống thông tin bệnh viện đã phát huy hiệu quả rất tốt, đặc biệt đối với đặc điểm ngành y tế Việt Nam, vì vậy hầu hết các bệnh viện quy mô vừa và lớn đã triển khai hệ thống này. Tính đến năm 2020, 100% bệnh viện đã triển khai hệ thống thông tin bệnh viện; 99,5% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc đã kết nối liên thông với hệ thống giám định của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Theo báo cáo của các địa phương, năm 2019 có 40,4% các bệnh viện ứng dụng CNTT đạt mức 1; 32,2% đạt mức 2; 21,4 đạt mức 3; 4,8% đạt mức 4; 1,1% đạt mức 5; 0,1 đạt mức 6 (bệnh viện thông minh). Trên toàn quốc có 8 bệnh viện công bố sử dụng bệnh án điện tử thay bệnh án giấy, 23 bệnh viện sử dụng hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh y học (PACS) không in phim. 5 Quản lý TTB Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc Hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) phổ biến 1. Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (Radiology Information System - RIS) Việc ra đời hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (Radiology Information System - RIS) là nhằm mục đích hỗ trợ các công việc quản trị cũng như các hoạt động thăm khám người bệnh trong khoa chẩn đoán hình ảnh, tăng khả năng chia sẻ thông tin phục vụ chẩn đoán và điều trị vì đây là điểm nút mà hầu như tất cả người bệnh đều phải đi qua; đồng thời do dữ liệu chẩn đoán hình ảnh vừa nhiều lại vừa có tính đặc thù cao, nên các mạng thông tin chẩn đoán hình ảnh ra đời sẽ hỗ trợ công tác quản lý dữ liệu bệnh viện một các đáng kể.
Khác biệt của hệ thống RIS với hệ thống HIS đó là hệ thống RIS cho phép quản lý cả dữ liệu về hình ảnh và văn bản chứ không đơn thuần như quản lý văn bản dạng ký tự như trong hệ thống HIS. Dữ liệu ảnh thu nhận được từ các thiết bị như X-quang, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, chụp số hoá xoá nên (DSA), siêu 6 âm v. sẽ được lưu trữ lại dưới dạng tập các ảnh số hóa. Đây chính là cơ sở dữ liệu mà hệ thống RIS quản lý.
Mặc dù vậy, cấu trúc của RIS cũng gần giống với HIS nhưng nhiệm vụ cụ thể về quản lý hình ảnh. Nhiệm vụ chính của RIS là: - RIS nhận thông tin chỉ định từ HIS, RIS chuyển thông tin chỉ định vào máy chẩn đoán hình ảnh theo tiêu chuẩn HL7; - RIS chuyển trả hình ảnh bệnh lý định dạng JPEG cho hệ thống HIS lưu trữ nhằm hoàn thiện hồ sơ bệnh án sau khi PACS chuyển đổi hình bệnh lý từ định dạng DICOM sang định dạng JPEG và chuyển cho hệ thống RIS; - Xử lý các bản ghi về người bệnh và danh mục phim; - Giám sát trạng thái của người bệnh, các đợt thăm khám chẩn đoán của người bệnh và các thiết bị chẩn đoán; - Tạo định dạng và lưu trữ các báo cáo về chẩn đoán; - Thao tác với các bản ghi về người bệnh và danh mục phim; - Thực hiện phân tích sơ bộ và phân tích thống kê.2: Sơ đồ Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS) 7 1. Y học từ xa (Tele-Medicine) Bộ Y tế ban hành Thông tư số 49/2017/TT-BYT ngày 28 tháng 12 năm 2017 quy định về hoạt động y tế từ xa, trong đó định nghĩa y tế từ xa là việc trao đổi thông tin có liên quan đến sức khỏe của cá nhân giữa người làm chuyên môn y tế với cá nhân đó hoặc giữa những người làm chuyên môn y tế với nhau ở các địa điểm cách xa nhau thông qua các phương tiện công nghệ thông tin và viễn thông. Hoạt động y tế từ xa, bao gồm: Tư vấn y tế từ xa; hội chẩn tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa; hội chẩn tư vấn chẩn đoán hình ảnh từ xa; hội chẩn tư vấn giải phẫu bệnh từ xa; hội chẩn tư vấn phẫu thuật từ xa và đào tạo chuyển giao kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh từ xa.
Ngày 05/01/2021 Bộ Y tế đã ra Quyết định 28/QĐ-BYT về việc ban hành Bộ tiêu chí Công nghệ thông tin để thực hiện hoạt động y tế từ xa, trong đó chỉ ra các mức đánh giá ứng dụng CNTT để thực hiện hoạt động y tế từ xa gồm 5 mức; mức 1 là việc thực hiện tư vấn phòng bệnh, khám bệnh từ xa qua kênh điện thoại riêng. Các cơ sở y tế xây dựng kênh điện thoại tư vấn riêng kết nối với các bác sĩ hoặc các cơ sở y tế tuyến trên đến mức 5 là mức mà cơ sở có khả năng tương tác đầy đủ, tất cả dữ liệu thiết bị y tế, bao gồm dữ liệu được cung cấp từ các thiết bị đeo của người bệnh, được truyền đến và phân tích tại phần mềm EHR. Sau khi đã hoàn thiện việc quản lý tại các phòng ban, thì bước tất yếu và logic tiếp theo là kết nối các mạng cục bộ tại từng bệnh viện bằng các đường truyền viễn thông. Việc kết nối này đưa đến một sự thay đổi về chất trong phương thức hoạt động của các bệnh viện.
Nếu mạng máy tính cho phép ta sử dụng chung tài nguyên của mỗi máy tính, thì xa hơn nữa, kết nối mạng giữa các bệnh viện tạo điều kiện cho chúng ta khai thác chung tiềm năng của mỗi bệnh viện về chuyên gia, tư liệu, giữ liệu, tri thức, tài nguyên thông tin v.v… Để những bác sĩ từ xa có thể can thiệp, chẩn đoán, ra quyết định về một ca bệnh bất kỳ, điều trước hết là phải có đủ thông tin về ca bệnh đó. Những thông tin này phải được tổ chức hợp lý, tập hợp lại rồi gửi đi một cách trọn vẹn. Nhiều khi các hình ảnh và dữ liệu của người bệnh phân tán theo thời gian, không gian và nằm rải rác, vì thế bài 8 toán về Y học từ xa phải bắt đầu từ bài toán về tổ chức và quản lý hệ thống thông tin bệnh viện. Một trong những hoạt động của Y học từ xa đó là hoạt động hội chẩn tư vấn chẩn đoán hình ảnh từ xa.
Giữa các điểm kết nối tham gia vào quá trình hội chẩn tư vấn chẩn đoán hình ảnh từ xa bảo đảm tích hợp hệ thống hỗ trợ chức năng gửi, nhận dữ liệu thông tin và hình ảnh y khoa theo tiêu chuẩn ảnh số và viễn thông trong y tế (DICOM) của người bệnh từ hệ thống quản lý thông tin bệnh viện (HIS) đồng thời các đơn vị tham gia phải có hệ thống nén và giải nén dữ liệu gửi nhận phải bảo đảm tiêu chuẩn về hình ảnh y khoa. Các hình ảnh cần thiết dùng cho chẩn đoán được truyền theo đường viễn thông về những trung tâm lớn có các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao. Tại đây, các chuyên gia sẽ đưa ra chẩn đoán của mình và kết quả được gửi lại nơi có người bệnh. Toàn bộ quy trình có thể tiến hành trực tuyến hay không trực tuyến, tuy nhiên phải đảm bảo độ trễ về thời gian (nếu có) là có thể chấp nhận được về mặt y học.
Nếu bệnh viện có nhiều máy chẩn đoán hình ảnh thì trước khi truyền hình ảnh đi, việc tổ chức hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh tại các bệnh viện là rất cần thiết. Và lúc đó công tác chẩn đoán hình ảnh có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào trong bệnh viện tại các khoa, phòng, phòng hội chẩn, phòng giao ban, tại các khoa điều trị, miễn là ở nơi đó có cài đặt một nơi làm việc với phần mềm tương ứng. Như vậy, những khoảng cách vốn là rào cản giữa các đơn vị, bệnh viện sẽ được khắc phục. Để làm được điều này, hình ảnh ở các thiết bị sinh hình ảnh y khoa phải tuân theo đúng chuẩn hình ảnh, ảnh phải được lấy ra theo phương thức số hóa và lưu trữ lại trên máy chủ lưu trữ.
Và hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh cũng phải đòi hỏi phần cứng theo tiêu chuẩn nhất định, những phần mềm quản lý hệ thống cũng như phần mềm chuyên dụng để xem ảnh, xử lý, lưu trữ và phân phối hình cũng phải có sự chuẩn hóa; có như vậy giữa các hệ thống khác nhau mới có thể hiểu được thông tin và việc trao đổi như vậy mới có ý nghĩa. 9 Ở Việt Nam hiện nay đã hình thành một số mạng lưới Y học từ xa như các bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Nhi Trung ương; Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Bệnh viện Bạch Mai., các bệnh viện trung ương đã kết nối nhằm trao đổi nghiên cứu khoa học, đào tạo, hội chẩn, tư vấn chuyên môn, quản lý với nhau cũng như với các bệnh viện quốc tế. Bộ Y tế đã phê duyệt Đề án Khám, chữa bệnh từ xa giai đoạn 2020-2025 tại Quyết định 2628/QĐ-BYT ngày 22/6/2020 với 24 bệnh viện tuyến trên trực thuộc Bộ Y tế và các bệnh viện của thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh với các bệnh viện tuyến dưới (12). Tổng quan về hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (PACS) 1.
Lịch sử phát triển và khái niệm hệ thống PACS Trong thực tế, quá trình khám bệnh thông qua hình ảnh cần rất ít các dữ liệu dưới dạng văn bản. Vì thế việc xử lý, lưu trữ, phân phối và hiển thị các dữ liệu dưới dạng hình ảnh đóng vai trò quan trọng.