CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI TOÀ ÁN Ở TỈNH BẾN TRE 1. Tình hình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Toà án ở tỉnh Bến Tre 1. Số liệu về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, xã hội của nước ta nói chung cũng như tỉnh Bến Tre nói riêng phát triển với nhiều chuyển biến tích cực.
Xã hội càng phát triển, nhu cầu nhà ở và các giao dịch về đất đai ngày càng gia tăng, cụ thể là các giao dịch liên quan đến QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở để đáp ứng nhu cầu người dân trong tình hình mới. Tuy nhiên, khi các giao dịch liên quan đến đất đai gia tăng cũng dẫn đến nhiều khó khăn, đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là các vụ án tranh chấp về QSDĐ. Qua nghiên cứu, tập hợp và thống kê số liệu về các vụ án tranh chấp QSDĐ tại tỉnh Bến Tre từ 2016 đến năm 2019 như sau: - Năm 2016: VKSND thụ lý 5.641 vụ, trong đó tranh chấp QSDĐ: 237 vụ.764 vụ, trong đó tranh chấp QSDĐ: 248 vụ.297 vụ, trong đó tranh chấp QSDĐ: 259 vụ.775 vụ, trong đó tranh chấp QSDĐ: 267 vụ. 5 2 Báo cáo số 1502/BC – VKS – P9 ngày 02 tháng 12 năm 2016 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 3 Báo cáo 1897/BC – VKS – P9 ngày 29 tháng 11 năm 2017 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 4 Báo cáo 1913/BC – VKS – P9 ngày 04 tháng 12 năm 2018 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 5 Báo cáo 2757/BC – VKS – P9 ngày 28 tháng 11 năm 2019 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 9 Số liệu thống kê trên cho thấy số lượng án về tranh chấp QSDĐ qua các năm từ năm 2016 đến năm 2019 đều tăng, chiếm số lượng tương đối lớn trong các vụ án mà VKSND kiểm sát giải quyết của TAND.
Từ thực tiễn hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án, có thể thấy các tranh chấp QSDĐ có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ tranh chấp QSDĐ chỉ là chủ của quá trình quản lý và sử dụng đất đai có thể là: các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý và người sử dụng đất. Thứ hai, đối tượng của tranh chấp là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất. Vì sau khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua, Nhà nước trở thành chủ sở hữu đối với toàn bộ đất đai trên cả nước theo quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 1980. Vì thế không thể có tranh chấp quyền sở hữu đất đai.
Thứ ba, khi phát sinh tranh chấp QSDĐ, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên trong tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích khác của Nhà nước. Vì tranh chấp đất đai nếu không được giải quyết một cách triệt để bởi Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc giải quyết bằng con đường xét xử tại TAND với sự kiểm sát của VKSND nói riêng sẽ phát sinh hậu quả rất lớn như: gây bất ổn tình hình kinh tế - chính trị tại địa phương, gây đình trệ trong sản xuất và kinh doanh đối với những hộ có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp. Thứ tư, tranh chấp đất đai có thể phá vỡ trật tự quản lý đất đai, dẫn đến những quy định của pháp luật về đất đai không được thực hiện một cách triệt để, mỗi nơi, mỗi địa phương sẽ áp dụng các quy định khác nhau. Những đặc điểm nêu trên trong trong tranh chấp quyền sử dụng đất là những đặc thù riêng biệt của dạng tranh chấp này phân biệt với các loại tranh chấp khác mà TAND thụ lý giải quyết.
Đánh giá kết quả giải quyết các vụ án 1. Ưu điểm Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp về QSDĐ, VKSND đã làm tốt hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp về QSDĐ, các TAND ở tỉnh Bến Tre đã áp dụng các quy định pháp luật về lĩnh vực đất đai cũng như kịp thời phối hợp, trao đổi các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của VKSND tối cao và TAND tối cao để giải quyết vụ án tranh chấp có tính chất phức tạp đúng quy định pháp luật. Qua hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án về tranh chấp QSDĐ, tác giả nhận thấy các TAND đã thực hiện tốt các quy định pháp luật trong công tác thụ lý, giải quyết các vụ án tranh chấp về QSDĐ và đã đạt một số ưu điểm như sau: Thứ nhất, về chất lượng giải quyết vụ án: Các tranh chấp liên quan đến QSDĐ được TAND giải quyết đúng quy định pháp luật, tạo được sự đồng thuận cao giữa các bên xảy ra tranh chấp và dư luận xã hội. Các tranh chấp được TAND giải quyết dứt điểm, chính xác và và kịp thời, đảm bảo sự đúng đắn của pháp luật nên không xảy ra các trường hợp người dân khiếu kiện gây bức xúc dư luận.
Thứ hai, về tiến độ giải quyết vụ án: Ngay từ khâu thụ lý giải quyết các vụ án tranh chấp về QSDĐ, TAND trên địa bàn tỉnh giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015, những trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đều có căn cứ. Khi có người nộp đơn khởi kiện nhưng không đầy đủ nội dung thì được cán bộ TAND hướng dẫn người nộp đơn làm lại đơn khởi kiện đúng quy định theo Điều 189 BLTTDS năm 2015. Hạn chế Từ khi Luật đất đai (LĐĐ) năm 2013 và các Bộ luật như: Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, BLTTDS năm 2015… có hiệu lực thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được khi TAND áp dụng các quy định trên trong việc giải quyết vụ án tranh chấp về đất đai vẫn còn những hạn chế như: 11 Thứ nhất, theo quy định tại Quyết định 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong Ngành Kiểm sát nhân dân và hướng dẫn thực hiện tại Mục 6.1, Điều 6 chỉ tiêu số vụ việc bị TAND cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm xét xử tuyên huỷ có trách nhiệm của VKSND quy định mức chỉ tiêu yêu cầu đạt không có vụ, việc bị huỷ liên quan đến trách nhiệm của VKSND. Tuy nhiên, thông qua thực tiễn giải quyết thì tỷ lệ án bị cấp phúc thẩm hủy liên quan đến các tranh chấp QSDĐ còn tương đối cao, cụ thể: - Năm 2016: VKSND thụ lý 237 vụ, giải quyết 140 vụ, trong đó: bị cấp phúc thẩm huỷ là 11 vụ (tỷ lệ 7,9%).
6 - Năm 2017: VKSND thụ lý 248 vụ, giải quyết 147 vụ, trong đó: bị cấp phúc thẩm huỷ là 13 vụ (tỷ lệ 8,8%). 7 - Năm 2018: VKSND thụ lý 259 vụ, giải quyết 198 vụ, trong đó: bị cấp phúc thẩm huỷ là 18 vụ (tỷ lệ 9,1%). 8 - Năm 2019: VKSND thụ lý 267 vụ, giải quyết 201 vụ, trong đó: bị cấp phúc thẩm huỷ là 19 vụ (tỷ lệ 9,6%). 9 Thứ hai, một số vụ án của TAND trên địa bàn tỉnh Bến Tre tuyên không rõ, không đầy đủ dẫn đến khó thi hành, kéo dài trên thực tế, chưa thu thập đầy đủ chứng cứ.
VKSND trong quá trình kiểm sát không kịp thời phát hiện vi phạm để 6 Báo cáo số 1502/BC – VKS – P9 ngày 02 tháng 12 năm 2016 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 7 Báo cáo 1897/BC – VKS – P9 ngày 29 tháng 11 năm 2017 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 8 Báo cáo 1913/BC – VKS – P9 ngày 04 tháng 12 năm 2018 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 9 Báo cáo 1913/BC – VKS – P9 ngày 04 tháng 12 năm 2018 Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre 12 kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo VKSND cấp tỉnh kháng nghị làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, cụ thể: Một là, vụ án “yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ và bị đơn là ông Huỳnh Văn B được TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre ra bản án số 39/2017/DS-ST ngày 18/12/2017 và TAND tỉnh Bến Tre ra bản án phúc thẩm số 309/2017/DS-PT nhưng không thể thi hành dẫn đến Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phải ra quyết định thu hồi các quyết định thi hành án dẫn đến việc thi hành án kéo dài hơn 02 năm (cụ thể nội dung được nêu tại tiểu mục 2.2, Chương 2 Luận văn). Hai là, vụ án “tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất, chia tài sản chung” giữa nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ và bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nh.10 Tòa sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án chưa toàn diện nên bản án của TAND cấp phúc thẩm số 217/2019/DS-PT ngày 16/7/2019 của TAND tỉnh Bến Tre tuyên: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 03/2019/DS-ST ngày 14/03/2019, TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Những hạn chế của TAND trong quá trình giải quyết án có một phần trách nhiệm của VKSND trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ chưa thật sự chặt chẽ. Tình hình giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất tại Toà án ở tỉnh Bến Tre 1.