CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN KỸ THUẬT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Bối cảnh ra đời Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương Có thể khái quát bốn nguyên nhân chính thúc đẩy sự ra đời của Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương như sau: Đầu tiên, là sự trỗi dậy mạnh mẽ của công nghệ tài chính và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời không chỉ thay thế con người làm những việc có tính lặp lại bằng máy móc mà còn có thể sử dụng mạng lưới điều khiển tự động, tự học hỏi và xây dựng những tập dữ liệu cho riêng mình. Nhờ đó đã làm nổi bật sự trở lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết của công nghệ tài chính, mặc dù nó đã tồn tại một thời gian dài từ những năm 1850.
Công nghệ tài chính thời đại mới giúp thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính với chi phí thấp, quy mô, mức độ tiếp cận tốt hơn, nhiều tiện ích trải nghiệm cho khách hàng, minh bạch, an toàn, ngoài ra còn giảm chi phí in ấn và quản lý tiền mặt cho Nhà nước. Trên hết công nghệ này thúc đẩy các giao dịch thanh toán ngày càng nhanh chóng và tiện lợi, từ đó nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt trở thành một xu thế mới cần thiết và được ưa chuộng hơn bất kì cách thức thanh toán nào khác mà nền kinh tế đang có, đặt biệt là sau thời điểm đại dịch Covid-19 vừa qua. Số liệu của CPMI cho thấy tổng giá trị của các khoản thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng mạnh mẽ ở cả khu vực kinh tế tiên tiến (AE), khu vực thị trường mới nổi và đang phát triển (EMDE). Trong giai đoạn 2012 – 2020, tỷ trọng giữa giá trị thanh toán không dùng tiền mặt trên tổng GDP đều tăng ở cả hai khu vực, từ 60% lên 62% ở khu vực AE và tăng từ 57% lên gần 60% ở khu vực EMDE; số lượng giao dịch bằng điện tử trên 1.000 dân cũng tăng 100% ở cả hai khu vực1.
Qua đó, có thể thấy người dân đang dần ưu tiên lựa chọn phương thức thanh toán mới trong thời kỳ kỷ nguyên số điều đó đã góp phần nâng cao hiệu quả giao dịch; tăng cường sự công khai, minh bạch trong hoạt động kinh tế; giảm chi phí lao động xã hội,. Ngoài ra, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt hầu hết tập trung vào khu vực tư nhân (các Ngân hàng thương mại, công ty công nghệ tài chính,.), hệ lụy dẫn đến nhiều rủi ro cho người dùng nói riêng và trên bình diện xã hội nói chung. Để đáp ứng được nhu cầu không dùng tiền mặt ngày một tăng của nền kinh tế, các khu vực tư nhân như ngân hàng thương mại, công ty tài chính đã cho ra đời những ứng dụng như ngân hàng số, ví điện tử,. Đây là phương tiện mang lại nhiều lợi ích, sự tiện lợi cho người dùng và cũng sẽ là một nhân tố mới thúc đẩy ngành mua sắm trực 1 “Đại dịch Covid làm thay đổi hành vi thanh toán người dùng”, https://www.vn/webcenter/portal/m/links/cm255?dDocName=SBV490208 , truy cập ngày 01/01/2023 9 tuyến, thương mại điện tử B2B trở thành ngành kinh tế tiềm năng.
Giá trị được lưu trữ trên các công cụ này là tiền điện tử - đồng tiền tuy không có tính pháp định nhưng vẫn được Nhà nước công nhận là phương tiện thanh toán hợp pháp. Tiền điện tử tuy có tính chất pháp lý rõ ràng, phù hợp với xu thế thanh toán của xã hội hiện tại nhưng hầu hết nó lại được phát triển bởi khu vực tư nhân và những công ty tài chính thành công trong lĩnh vực này được biết đến như là những gã công nghệ khổng lồ BigTech. Thực trạng hiện nay đã cho thấy các công ty này ngày càng chiếm thị phần cao trong lĩnh vực thanh toán, nhất là ở các quốc gia phát triển. Điều này dẫn đến nhiều rủi ro cho cả người sử dụng các ví điện tử tư nhân và cơ quan quản lý cấp phép hoạt động.
Một là, thông tin người dùng tiền điện tử có thể dễ dàng bị đánh cắp do các công ty tài chính phát hành tiền có đủ dữ liệu của khách hàng. Nhờ vậy, họ không chỉ khai thác được tài sản vô hình này vào trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mà còn có thể ứng dụng liên kết với những ngành khác. Hai là, nhu cầu không dùng tiền mặt đã làm giảm đáng kể tiền mặt trong lưu thông, từ đó gây ra hiện tượng hệ thống thanh toán gần như tập trung toàn bộ vào tay khu vực tư nhân. Hậu quả có thể xảy ra là trong nền kinh tế bình thường, không nhiều biến động thì khu vực tư nhân trở thành độc quyền ngày càng chiếm nhiều thị phần trong hệ thống tiền tệ, đe dọa đến vị thế của đồng tiền pháp định mang chủ quyền.
Trong trường hợp khủng hoảng thị trường, tiền điện tử không đủ an toàn và dễ biến mất khi chủ thể tư nhân tạo ra đồng tiền đó tuyên bố phá sản với lý do không đảm bảo đủ giá trị cho thanh toán. Hơn nữa, thị trường tiền tệ không chính thống phát triển mạnh mẽ thu hút đông đảo người dùng nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro cả về mặt pháp lý lẫn kinh tế. Bên cạnh tiền kỹ thuật số được Nhà nước chấp thuận xem như một phương tiện thanh toán hợp pháp (đúng hơn là tiền điện tử)2, cũng tồn tại các đồng tiền kỹ thuật số không được chấp thuận như tiền ảo, tiền mã hóa (tiêu biểu là Bitcoin). Bitcoin được khởi phát sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008, lúc này dường như chính sách tiền tệ quốc gia tỏ ra bất lực, một trong những giải pháp vượt qua khủng hoảng là cần in thêm tiền pháp định mới nhưng cũng đồng nghĩa sẽ làm giảm giá trị của đồng tiền.
Là một giải pháp thay thế, nhân vật có biệt danh là Satoshi Nakamoto đã đưa ý tưởng về Bitcoin, một loại tiền không nằm trong sự kiểm soát của bất kỳ tổ chức tập trung nào. Thiết kế của đồng Bitcoin có nhiều ưu điểm, ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain trong giao dịch mang tính bảo mật cao, giao dịch đã thực hiện là không thể thay đổi bởi bất kỳ ai và được công khai trước công chúng. Ngoài ra chi phí vận chuyển tiền tệ là vô cùng thấp, chúng có thể được trao đổi bởi người dân trong 2 Tiền kỹ thuật số bao gồm hai dạng: Được nhà nước chấp thuận và không được Nhà nước chấp thuận. Đối với dạng được được Nhà nước chấp thuận bao gồm Tiền điện tử (các loại tiền như Internet Banking) và Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương.
Đối với dạng không được Nhà nước chấp thuận bao gồm Tiền ảo và Stablecoin, tiền mã hóa là một dạng của tiền ảo – Nguyễn Thế Thắng (2022), Nghiên cứu về việc phát hành tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, tr. 9 10 cùng một quốc gia hoặc xuyên quốc gia mà không cần tốn chi phí và các thủ tục tài chính thông thường. Với độ khan hiếm, Bitcoin được người dùng gán niềm tin giá trị và lên xuống theo nhu cầu thị trường, thông thường luôn giữ giá ở mức cao.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của đồng tiền này là tính hợp pháp và lưu trữ giá trị. Việc chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin chỉ giới hạn trong phạm vi một cộng đồng nhất định, không được Chính phủ và pháp luật bảo hộ. Vì không được đảm bảo giá trị bởi Ngân hàng Trung ương (NHTW) nên việc rớt giá là điều hoàn toàn có thể xảy ra, nếu Bitcoin được sử dụng rộng rãi và xem như phương tiện đầu tư, thì một khi nhu cầu về đồng tiền này giảm sút sẽ gây ra tác động tiêu cực đến các chủ thể nắm giữ. Do đó, khả năng mở rộng sử dụng loại tiền này là khó có thể xảy ra.
Cuối cùng, tiền mặt vật chất có truyền thống lâu đời, là phương tiện an toàn để lưu trữ giá trị nhưng tồn tại không ít hạn chế. Đối với tiền mặt pháp định, đây được xem là công cụ có tính thanh khoản cao và là đối tượng an toàn để người dân nắm giữ khi nền kinh tế có nhiều biến động, được thể hiện rõ trong cuộc hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Mặc dù vậy, tiền mặt tồn tại không ít hạn chế. Cần phải sử dụng nhiều nguyên liệu như giấy, polymer, kim loại, để sản xuất ra một đơn vị tiền tệ gây tốn kém tài nguyên; ngoài ra trong quá trình lưu thông những đồng tiền không đạt tiêu chuẩn sẽ bị tiêu hủy cũng đặt ra vấn đề ô nhiễm môi trường.
Về chi phí sản xuất và vận hành cũng gây tốn kém cho ngân sách nhà nước, nguồn nhân lực lớn gây lãng phí công sức xã hội. Đặc biệt, việc thực hiện các giao dịch bằng tiền mặt chỉ có thể thực hiện dễ dàng giữa các chủ thể có khoảng cách gần nhau, trong khi các giao dịch lớn và có khoảng cách địa lý xa hơn sẽ gặp nhiều khó khăn, tốn kém cả thời gian và chi phí. Tóm lại, thông qua các vấn đề vừa được đề cập, mỗi loại tiền đều tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó yêu cầu đặt ra cần có một đồng tiền mới – “Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương (Central Bank Digital Currency – CBDC)”, là đồng tiền mang chủ quyền quốc gia, hợp pháp được Chính phủ thừa nhận và bảo hộ, có giá trị ổn định ngay cả khi khủng hoảng kinh tế xảy ra; nhưng đồng thời cũng đáp ứng được tính tiện lợi, khả năng linh hoạt và an toàn như các giao dịch bằng tiền điện tử hiện nay; đồng tiền phát hành chịu sự kiểm soát trực tiếp từ các cơ quan công quyền, có thể là từ NHTW để tránh sự lạm dụng vị thế trên thị trường từ các nhà cung cấp phương tiện thanh toán khu vực tư nhân.
Cũng cần lưu ý việc phát hành loại tiền tệ mới này không thể triệt tiêu một số đồng tiền phi tập trung như Bitcoin vì chúng có số lượng giới hạn được người nắm giữ tin tưởng xem như một khoản đầu tư, bất chấp những rủi ro về mặt pháp lý và kinh tế, nhưng tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương sẽ có thể làm đa dạng hóa lựa chọn của người dùng trong việc sử dụng các phương tiện thanh toán.