chương 1, tác giả trình bày bố cục của luận văn bao gồm 05 chương và tóm tắt ngắn gọn nội dung, cách tiếp cận của từng chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng Lý thuyết ngân hàng (Bhattacharya & Thakor, 1993) đã nêu sáu rủi ro đáng kể liên quan đến chính sách tín dụng của các ngân hàng, bao gồm: RRTD, rủi ro thiếu tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro danh mục đầu tư, rủi ro lãi suất và rủi ro công đoàn.
Trong tất cả các trường hợp này, rủi ro tiếp xúc nhiều nhất là RRTD, khó phát hiện và là một trong những rủi ro đáng kể trong hoạt động của NHTM. Ngoài ra, RRTD còn được gọi là rủi ro mất khả năng thanh toán nợ, đề cập đến tổn thất kinh tế có thể xảy ra do người vay không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đó là khả năng sai lệch giữa thu nhập dự kiến của tổ chức phát hành tín dụng và thu nhập thực tế do người nhận không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi. Rủi ro tín dụng được cho là một trong những rủi ro hàng đầu mà các ngân hàng phải đối mặt và sự thành công trong hoạt động kinh doanh của họ, phụ thuộc vào việc đo lường chính xác và quản lý hiệu quả rủi ro với mức độ lớn hơn bất kỳ rủi ro nào khác.
Sẽ có nguy cơ tổn thất tài chính nếu bên vay hoặc đối tác không tôn trọng các cam kết theo thỏa thuận. Theo Coyle (2000) cho rằng RRTD là tổn thất do khách hàng từ chối thanh toán hoặc không có khả năng hoàn trả những khoản nợ đầy đủ và đúng hạn. Nó phát sinh chủ yếu từ việc cho vay trực tiếp và một số các sản phẩm ngoại bảng như bảo lãnh, thư tín dụng, ngoại hối, các hợp đồng kỳ hạn và các công cụ phái sinh cũng như từ việc ngân hàng nắm giữ tài sản dưới hình thức chứng khoán nợ. Nó có thể ở dạng rủi ro giao hàng hoặc thanh toán.
Một ngân hàng tồn tại hay thất bại, phụ thuộc vào việc kiếm được lợi nhuận khổng lồ từ lãi suất mức độ rủi ro của họ. Quản lý RRTD là một phần quan trọng của cách tiếp cận toàn diện để quản lý rủi ro và là điều cần thiết cho sự thành công lâu dài của một ngân hàng thương mại. 10 RRTD có thể hiểu là rủi ro mà một bên không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính của mình hoặc không đáp ứng được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Nó có thể phát sinh từ nhiều hoạt động, chẳng hạn như vỡ nợ hoặc nghĩa vụ trái phiếu, hoặc từ người bảo lãnh, nhà cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng hoặc đối tác phái sinh không đáp ứng các nghĩa vụ của mình.
Theo Ekinci và Poyraz (2019) RRTD được định nghĩa là rủi ro ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là yếu tố nội sinh quyết định hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Mức độ rủi ro cao của các khoản nợ xấu trên bảng cân đối kế toán làm giảm lợi nhuận và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Từ các quan điểm trên, RRTD là khả năng gây tổn thất cho ngân hàng, khi đối tác không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán hoặc không thanh toán, thanh toán trễ hạn dù đó là gốc hay lãi khi đến hạn. RRTD sẽ gây tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và sụt giảm giá trị thị trường của vốn.
Trong trường hợp nghiêm trọng có thể làm cho ngân hàng thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Phân loại rủi ro tín dụng 2. Phân loại theo nguyên nhân rủi ro phát sinh Hồ Diệu (2002) cho rằng RRTD có thể được phân loại thành hai loại dựa trên nguyên nhân phát sinh bao gồm rủi ro giao dịch (Transsaction Risk) và Rủi ro danh mục (Portfolio risk). Rủi ro giao dịch (Transaction risk) Rủi ro giao dịch là kết quả của các hạn chế trong quá trình thực hiện các giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng, bao gồm: Rủi ro lựa chọn phát sinh trong quá trình thẩm định, phân tích, đánh giá của ngân hàng, khi tiến hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
11 Rủi ro bảo đảm liên quan đến những tiêu chuẩn bảo đảm: Các loại tài sản bảo đảm, các thủ thể tham gia bảo đảm, mức cho vay tối đa trên giá trị tài sản hoặc các điều khoản được quy định trong hợp đồng cho vay. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng. Rủi ro danh mục (Portfolio risk) Rủi ro danh mục liên quan đến những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay, bao gồm: Rủi ro nội tại phát sinh từ các yếu tố nội tại riêng biệt của cá nhân đi vay, xuất phát từ đặc điểm hoạt động và cách sử dụng vốn của khách hàng vay. Bởi liên quan chặt chẽ đến đặc điểm của chủ thể được cấp tín dụng, rủi ro nội tại là yếu tố không thể loại bỏ hoàn toàn.
Rủi ro tập trung bắt nguồn từ việc cho vay quá mức đối với một số khách hàng, các ngành kinh tế hẹp, loại hình cho vay hoặc khu vực địa lý nhất định, không tuân thủ nguyên tắc đa dạng hóa để phân bố rủi ro. Chính sự tồn tại của rủi ro nội tại và tính không thể loại trừ của nó làm cho việc đa dạng hóa để giảm thiểu và kiểm soát rủi ro tập trung trở thành một vấn đề cần thiết trong quá trình cấp tín dụng của các ngân hàng. Phân loại theo tính chất rủi ro tín dụng Rủi ro khách quan xuất phát từ tổn thất của các khoản vay, trong trường hợp ngân hàng và khách hàng đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhưng do một số nguyên nhân bất khả kháng như: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn hoặc người vay bị mất tích, chết.dẫn đến RRTD xảy ra Rủi ro chủ quan phát sinh từ lỗi của người đi vay hoặc của ngân hàng gây ra, có thể là do cố ý hay không cố ý và dẫn đến việc mất mát vốn cho khoản vay.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên dân dẫn đến rủi ro tín dụng và có thể phân chia thành các nguyên nhân chủ yếu sau đây: 2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Trình độ chuyên môn, năng lực của đội ngũ nhân viên còn hạn chế: Sự hạn chế về năng lực, thiếu trách nhiệm trong công việc dẫn đến đưa ra những quyết định cho vay, đầu tư sai lầm vào các kế hoạch, dự án kinh doanh không hiệu quả (Switzer & Wang, 2013). Sự hạn chế trong khâu thẩm định và quyết định cho vay đã dẫn đến những rủi ro đầu tư, tín dụng không đúng đắn và kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Mặt khác, nhân viên tín dụng còn non kém về trình độ nghiệp vụ, thiếu kiến thức thực tiễn và kinh nghiệm sẽ hạn chế khả năng thẩm định, xử lý các thông tin hoặc không đánh giá được tình hình tài chính của khách hàng đưa ra những quyết định đầu tư không hiểu quả dẫn đến rủi ro cao, đặc biệt là các dự án kinh tế lớn, thời gian đầu tư dài đòi hỏi khả năng đánh giá, phân tích và dự báo tốt với nhiều yếu tố, chỉ tiêu kinh tế - xã hội liên quan đến khả năng thực hiện và tính khả thi của dự án.
Bên cạnh đó, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cũng đặc biệt quan tâm, là nhân tố con người dẫn đến RRTD với mức độ ảnh hưởng rất lớn, chỉ vì cái lợi hoặc ham muốn hoàn thành chỉ tiêu bất chấp đầu vào các dự án không hiệu quả. Hạn chế trong công tác quản lý và giám sát sau khi cho vay, thường thì việc tập trung vào khâu thẩm định trước khi cho vay được ưu tiên hơn so với quá trình rà soát, thẩm định vốn sau cho vay (Lương Hải Sinh, 2023). Khi ngân hàng đã cho vay, khoản vay cần phải được quản lý một cách liên tục để đảm bảo rằng khách hàng sẽ hoàn trả nợ và gốc đúng hạn. Việc theo dõi nợ được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người quản lý khoản vay nói riêng và ngân hàng nói chung.
Mục đích theo dõi hoạt động khách hàng nhằm xác minh việc đảm bảo thực hiện các điều khoản và quy định đã ghi trong hợp đồng giữa khách hàng và ngân hàng, đồng thời tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới và mở rộng phạm vi kinh doanh. Tuy nhiên, phương pháp này chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Nguyên nhân có thể là do yếu tố tâm lý của bán bộ ngân hàng không muốn gây phiền toái cho khách 13 hàng hoặc do hệ thống thông tin quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp đã trở nên lỗi thời, không cập nhật thông tin kịp thời hoặc thiếu sót các thông tin mà ngân hàng yêu cầu. Mặt khác, việc áp dụng các chính sách cho vay bởi ngân hàng đã không được thực hiện một cách phù hợp, việc đa dạng hóa các danh mục đầu tư cũng chưa được thực hiện.
Các quy định về cho vay cũng chưa được thiết lập chặt chẽ và hoạt động cấp tín dụng thiếu sự kiểm soát. Khoản vay không được xét duyệt dựa trên mức độ rủi ro của khách hàng và giá trị tài sản thế chấp không được nâng lên để cho vay nhiều hơn. Nguyên nhân từ phía khách hàng Theo Lương Hải Sinh (2023), nguyên nhân của rủi ro có thể từ phía người đi vay trong việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích theo thỏa thuận và không có ý định trả nợ. Hầu hết các doanh nghiệp khi vay tiền từ ngân hàng đã có kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể, khả thi và hiệu quả.
Số lượng doanh nghiệp sử dụng tiền vay không theo mục đích hoặc có ý định gian lận, chiếm dụng tiền từ ngân hàng là ít. Tuy nhiên, hậu quả của việc này rất nặng nề và ảnh hưởng xấu tới uy tín của ngân hàng, cũng như ảnh hưởng tiêu cực tới các doanh nghiệp khác.