CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tội phạm cướp giật tài sản 1. Tội phạm cướp giật theo Bộ luật hình sự Việt Nam Khái niệm: Tội cướp giật tài sản là tội danh thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu, được quy định tại Điều 171 BLHS 2015. BLHS 2015 không nêu định nghĩa về tội cướp giật tài sản.
Tuy nhiên có thể hiểu khái niệm “Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát”. Ở đây, người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để giật lấy tài sản một cách nhanh chóng để cho người quản lý tài sản khó có thể phản ứng lại kịp. Yếu tố bất ngờ trong tội cướp giật tài sản là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm. Cấu thành tội phạm Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên hoặc đe dọa thực tế gây nên thiệt hại đáng kể nhất định.
Theo đó, tội cướp giật tài sản xâm phạm đến hai khách thể đó là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản. Đối tượng tác động của Tội cướp giật tài sản là những tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá. Vật là đối tượng tác động của tội này phải không có tính năng đặc biệt, nếu vật bị cướp giật là ma túy, vũ khí…. Tiền phải thỏa mãn điều kiện là tiền thật và được lưu thông.
Những giấy tờ có giá mà có thể quy đổi thành tiền hoặc có chức năng thanh toán như tiền thì là đối tượng tác động của tội cướp giật1. Điểm đặc trưng của của tội cướp giật là đối tượng tác động thường là những tài sản nhỏ gọn, dễ dàng cho người phạm tội giật lấy. Về mặt khách quan của tội phạm, căn cứ theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 và qua thực tiễn xét xử thì hành vi cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật bằng hành động giật, giành lấy tài sản đang trong sự quản lý của người khác. Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt tài sản ở đây phải được thực hiện một cách công khai và nhanh chóng, đây cũng là cách để phân biệt tội phạm cướp giật tài sản đối với một số tội phạm xâm phạm quyền sở hữu khác.
Ngoài ra ở tội cướp giật tài sản, hành vi của người phạm tội phải là hành vi không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần đối với chủ sở hữu, người quản lý tài sản với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên trong lúc thực hiện hành vi người phạm tội có thể dùng sức mạnh tác động để giật được tài sản, mục đích của hành 1 Đại học luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 10 vi chỉ làm nhằm giật được tài sản chứ không nhằm mục đích làm tê liệt sự phản kháng hay ý chí của họ để qua đó mà chiếm đoạt được tài sản. Tội phạm được xem là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản ra khỏi sự quản lý của chủ tài sản, trường hợp sau khi chiếm được tài sản mà người phạm tội bị truy đuổi hay bị bắt nên phải bỏ lại tài sản thì vẫn được coi là tội phạm hoàn thành.
Trường hợp khác, người phạm tội đã thực hiện hành vi giật tài sản nhưng vì lý do khách quan nào đó mà không giật được tài sản thì vẫn cấu thành tội cướp giật tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Chủ thể của tội cướp giật tài sản là chủ thể thường. Tuy nhiên, quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS 2015 thuộc loại tội phạm nghiêm trọng vì có mức cao nhất của khung hình phạt là 05 năm tù, theo đó thì người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản này. Bởi lẽ, khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 quy định “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 173, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 trong Bộ Luật này”.
Và trong đó có Điều 171 quy định về cướp giật tài sản. Về mặt chủ quan của tội phạm cướp giật tài sản thì yếu tố lỗi đóng vai trò quan trọng nhất và cũng là yếu tố chủ quan duy nhất cấu thành tội này. Người phạm tội cướp giật tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, người này nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện nó với mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác. Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định mục đích và động cơ đối với tội phạm này.
Như vậy, về mặt chủ quan người phạm tội cướp giật tài sản phải có lỗi cố ý trực tiếp. Khái niệm và ý nghĩa của việc phòng ngừa tội phạm cướp giật ở TP.HCM Khái niệm phòng ngừa tội phạm cướp giật Về mặt lý luận, có thể hiểu phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và tính nhà nước nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội 2. Với cơ sở lý luận như trên, có thể hiểu phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản ở TP.HCM là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân, bằng cách sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính nhà nước và mang tính xã hội tác động vào nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội cướp giật tài sản nhằm hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại trừ tình hình tội phạm cướp giật ra khỏi đời sống xã hội trên địa bản TP. 2 Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Tội phạm học, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.276 11 Nội dung của phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản bao gồm việc phòng ngừa bằng sự cưỡng chế và phòng ngừa xã hội.
Phòng ngừa bằng sự cưỡng chế là việc xử lý tội phạm cướp giật thông qua các hoạt động như áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án với người phạm tội cướp giật. Phòng ngừa bằng cưỡng chế phát huy tác dụng là ngăn người phạm tội tiếp tục phạm tội khi áp dụng biện pháp ngăn chặn; răn đe người phạm tội khi áp dụng trách nhiệm hình sự; cải tạo người phạm tội thành con người tốt hơn khi thi hành án. Còn phòng ngừa xã hội là việc loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội làm cho tội phạm cướp giật. Hoạt động này bao gồm việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, cải thiện các quan hệ xã hội, giáo dục ý thức người dân, xóa bỏ các tình huống, hoàn cảnh phạm tội thuận lợi… làm cho tội phạm cướp giật không có cơ sở phát sinh.
Biện pháp phòng ngừa xã hội mang tính chủ động, tích cực, hiệu quả cao, có thể loại bỏ tận gốc tội phạm cướp giật, do đó biện pháp này thường được ưu tiên áp dụng hơn biện pháp cưỡng chế. Ý nghĩa của việc phòng ngừa tội phạm cướp giật ở TP.HCM Tội phạm cướp giật tài sản dẫn đến thiệt hại không chỉ cho nạn nhân mà còn cho toàn xã hội tại TP. Vì vậy, việc phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản ở TP.HCM mang lại ý nghĩa trên nhiều khía cạnh. Ở khía cạnh kinh tế thì phòng ngừa tội phạm cướp giật giúp ngăn chặn những hậu quả về người và tài sản do hành vi cướp giật gây ra.
Khi tội phạm được phòng ngừa thì sẽ tránh được việc người dân bị thiệt hại về tài sản khi bị cướp giật, cũng sẽ tránh việc bị thương tích do bị người phạm tội chống trả, giảm thiểu cả những thiệt hại gián tiếp mà nhà nước và xã hội phải bỏ kinh phí để khắc phục. Việc phòng ngừa tội phạm cướp giật còn giúp giảm ngân sách nhà nước phải chi tiêu cho việc điều tra, truy tố, xét xử với người phạm tội cướp giật. Ngoài ra công tác phòng ngừa cũng giúp TP.HCM có điều kiện phát triển kinh tế hơn, thúc đẩy đầu tư kinh tế vào nơi đây, tạo sự an toàn cho du khách và thúc đẩy ngành du lịch phát triển. Ở khía cạnh xã hội thì phòng ngừa tội phạm cướp giật còn có ý nghĩa nhân văn khi góp phần ngăn chặn tình trạng một người bình thường thực hiện hành vi cướp giật và phải chịu hình phạt cũng như hậu quả pháp lý khác.
Thực hiện tốt công tác phòng ngừa giúp bảo đảm an ninh trật tự, bảo đảm được cuộc sống bình yên và hạnh phúc của người dân và du khách, họ sẽ hạn chế tâm lý bất an và lo sợ bị cướp giật vào mỗi lần ra ngoài đường. Ngoài ra việc phòng ngừa tội phạm cướp giật sẽ giúp tạo hình ảnh tốt đẹp, nâng cao vị thế của TP.HCM với cả nước và thế giới. Ở khía cạnh quản lý thì phòng ngừa tội phạm cướp giật còn là một phương thức quản lý xã hội hiệu quả. Qua việc thực hiện công tác phòng ngừa tội phạm, cơ quan nhà nước có thể kiểm soát tình hình tội phạm cũng như là tệ nạn xã hội.
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm góp phần duy trì an ninh trật tự xã hội. Nhờ những hoạt động phòng ngừa 12 xã hội thì xã hội trở nên lành mạnh và an toàn hơn, đảm bảo sự bình yên, hạnh phúc cho người dân sống tại TP. Tình hình tội phạm cướp giật ở Thành phố Hồ Chí Minh Như đã đề cập ở trên, TP.HCM là trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch của Việt Nam. Đây cũng là điểm đến lý tưởng của người dân khắp các tỉnh thành cả nước để sinh sống và làm việc, cũng như là địa điểm du lịch hấp dẫn các du khách trong và ngoài nước.
Nhưng sự phát triển này cũng đã làm cho TP.HCM là địa bàn tiêu biểu cho hoạt động tội phạm, tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm cướp giật nói riêng ở TP.HCM diễn biến rất phức tạp.