CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản - Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm Ở nước ta hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về phòng ngừa tình hình tội phạm. Theo từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an thì: phòng ngừa tội phạm là sự vận dụng tổng hợp những biện pháp chính trị, tư tưởng, kinh tế, pháp luật. theo một kế hoạch nhất định của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để chủ động ngăn ngừa các hành vi phạm tội, loại trừ những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm.
Theo giáo trình Tội phạm học, Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quang cho rằng đấu tranh chống tội phạm bao hàm hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, phát hiện điều tra khám phá kịp thời mỗi khi tội phạm xảy ra nhằm đảm bảo tội phạm không thể không bị phát hiện và điều tra xử lý kịp thời, không một người phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật. Đây là nội dung quan trọng trong mọi thời kỳ của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.[11] Thứ hai, bằng mọi biện pháp không cho tội phạm xảy ra, không để cho một thành viên nào của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, xã hội không phải chịu hậu quả của tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật không phải có những chi phí cần thiết cho việc điều tra, khám phá, xử lý người phạm tội và điều quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống bình thường cho mọi công dân trong xã hội, làm cơ sở cho mọi công dân có thể cống hiến sức lực của mình vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Theo quan niệm này phòng ngừa tội phạm khác với công tác điều tra khám phá, xử lý tội phạm. Truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là một hình thức phòng ngừa tình hình tội phạm chủ động và có hiệu quả.
Thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và buộc kẻ phạm tội phải chịu một hình phạt không những có ý nghĩa phòng ngừa cá biệt mà còn có ý nghĩa phòng ngừa chung[29]. Việc trừng trị kẻ phạm tội và ngăn chặn nó không phạm tội mới còn có ý nghĩa tác động đối với những người xung quanh làm cho họ từ bỏ ý định phạm tội. Tuy nhiên, phòng ngừa tình hình tội phạm còn được thể hiện ở việc cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, xóa bỏ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, hình thành các điều kiện tích cực cho sự hình thành, hoàn thiện nhân cách con người mới. Theo quan niệm này, phòng ngừa tình hình tội phạm bao hàm không chỉ ngăn ngừa tội phạm xảy ra mà còn trừng trị người phạm tội nhằm giáo dục và cải tạo họ thành người có ích cho xã hội [28].
Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong lực lượng CAND quan niệm rằng: phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội làm giảm tội phạm. Phòng ngừa tình hình tội phạm là tư tưởng chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bao gồm các hình thức và biện pháp được thực hiện nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, nếu tội phạm xảy ra thì phải hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại. Theo quan điểm này thì phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm các hoạt động để phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội từ đó tiến hành các biện pháp nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, đồng thời hạn chế đến mức 7 thấp nhất tác hại khi tội phạm xảy ra. - Khái niệm tội cướp giật tài sản Điều 171 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 quy định: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.
Căn cứ vào điều luật và qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thì hành vi cướp giật tài sản là hành vi “công khai” chiếm đoạt tài sản của người khác và “nhanh chóng” tẩu thoát. Như vậy, có thể rút ra khái niệm tội cướp giật tài sản như sau: tội cướp giật tài sản là người phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hành vi nhanh chóng, công khai giật lấy tài sản rồi tìm cách tẩu thoát. - Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản Điều 171 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 quy định: 1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 200.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người 8 già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; i) Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000 đồng trở lên; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; c) Làm chết người; d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.
Căn cứ vào quy định của điều luật thì tội cướp giật tài sản có các dấu hiệu pháp lý như sau: Thứ nhất, khách thể của tội cướp giật tài sản Tội cướp giật tài sản xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu của người khác đối với tài sản. Trong một số trường hợp, hành vi cướp giật tài sản đã gây ra hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại như cướp 9 giật tài sản của người đang điều khiển xe môtô làm cho họ ngã xe gây thương tích. Trong những trường hợp này, trước khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm và hậu quả của hành vi nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đưa vào trong cấu thành tội phạm dấu hiệu thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt.
Như vậy, ở đây tội cướp giật tài sản đồng thời xâm phạm đến hai khách thể, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Nhưng việc xâm phạm quan hệ nhân thân không phải là mục đích, đối tượng mà người phạm tội nhằm vào. Vì thế, đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác. Thứ hai, mặt khách quan của tội cướp giật tài sản Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi “công khai” về mặt khách quan, chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó. Đây cũng là một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các trường hợp phạm tội khác như hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… “Nhanh chóng” là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội. Đó là thủ đoạn nhanh chóng tiếp cận tài sản, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát.
Để giật được tài sản, người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, sơ hở này có thể sẵn có (như đeo dây chuyền lộ ra trên cổ, túi xách để ở giỏ xe, sử dụng điện thoại di động khi đang chạy xe…) hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra (như giả vờ tiếp cận hỏi thăm chuyện với chủ tài sản, vào cửa hàng giả vờ xem mua tài sản…) và nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ, giật lấy túi xách của người đi đường và 10 nhanh chóng tẩu thoát…[37] Thủ đoạn nhanh chóng này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữ tài sản…, thông thường đây là những tài sản gọn nhẹ, dễ giật lấy, dễ mang đi như: túi xách, dây chuyền, máy ảnh, điện thoại di động… Một số trường hợp, người phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cướp giật tài sản nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bị chủ tài sản chống cự, giằng lấy lại tài sản, người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng được tài sản thì hành vi phạm tội này không còn là hành vi cướp giật tài sản mà chuyển sang hành vi cướp tài sản. Tuy nhiên, cũng được xem là hành vi cướp giật tài sản trong trường hợp người phạm tội có tác động nhẹ đến người chiếm giữ tài sản, song không làm cho họ lâm vào tình trạng mất khả năng chống cự (ví dụ: xô ngã, giật ví rồi tẩu thoát…). Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản từ người khác, kể cả trường hợp người phạm tội bỏ lại tài sản đã cướp giật được để tẩu thoát vì một lý do nào đó, chẳng hạn như bị truy đuổi gắt gao, bị tai nạn giao thông… [41].