Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản 1.Khái niệm phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản Trong lý luận về tội phạm học, các nhà khoa học đã sử dụng hai thuật ngữ “Phòng ngừa tội phạm” và “Phòng ngừa tình hình tội phạm”, hai thuật ngữ này đều là phòng ngừa tội phạm ở các mức độ khác nhau như: tình hình tội phạm nói chung, từng loại tội phạm và từng tội phạm cụ thể nhằm hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội, không phân biệt loại tội phạm (hoặc tội phạm) nào. Có thể thấy, phòng ngừa tình hình tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Do đó, phòng ngừa tình hình tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học.
Hơn nữa, mục đích của ngành khoa học về tội phạm học chính là để phòng ngừa tình hình tội phạm, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Theo Từ điển Luật học: “Phòng ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành” [31, tr. Phòng ngừa tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật do các cơ quan, các tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm và tiến tới loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Theo Giáo trình Tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện 7 phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội”[34, tr.
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm: “phòng ngừa tội phạm là không để tội phạm xảy ra và gây hậu quả cho xã hội, không để con người sống trong xã hội phải đối mặt và gánh chịu những hình phạt nghiêm khắc của pháp luật. Nếu con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì phải được phát hiện kịp thời, điều tra khám phá để truy tố, xét xử theo quy định, tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội” [36, tr.147] Theo quan điểm GS.TS Võ Khánh Vinh, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm. Trong đấu tranh với tình hình tội phạm có hai phương hướng liên kết chặt chẽ với nhau, đó là phòng ngừa và phát hiện điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm, đảm bảo người phạm tội phải chịu các hình phạt thích đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của mình và được giáo dục, cải tạo để trở thành một công dân có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Các biện pháp pháp lý – hình sự của cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm có vị trí, vai trò quan trọng trong những trường hợp chuẩn bị và thực hiện các tội phạm cụ thể.
Phòng ngừa là việc khắc phục hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm trước khi nó gây ra việc thực hiện tội phạm” [34, tr. Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 thuộc Chương XVI, nhóm các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Theo đó, trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản. Để phòng ngừa loại tội này một cách có hiệu quả cần làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản như sau: - Khách thể của tội trộm cắp tài sản 8 Hành vi trộm cắp tài sản là hành vi xâm phạm vào quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ là quyền sở hữu tài sản; đó là các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.
Vì vậy, hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của người khác. Đối tượng tác động của tội phạm trộm cắp tài sản là tài sản của người khác; tài sản này có thể thuộc quyền sở hữu của công dân Việt Nam, của người nước ngoài, của các tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam, của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như của các nước khác tại Việt Nam đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. - Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, đối với tội trộm cắp tài sản được thể hiện ở hành vi lén lút, bí mật để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đang do người khác quản lý. Dấu hiệu có tính chất đặc thù của tội trộm cắp tài sản là hành vi “lén lút, bí mật”, đây cũng là điểm riêng để phân biệt tội trộm cắp tài sản với những tội chiếm đoạt tài sản khác.
“Lén lút, bí mật“ được hiểu là người thực hiện hành vi phạm tội có ý thức che giấu hành vi của mình, sự “lén lút, bí mật” này chỉ cần đối với người chủ sở hữu tài sản hoặc người đang quản lý đối với tài sản đó, mà không cần “lén lút, bí mật” đối với những người khác. Tuy nhiên, đa số những hành vi trộm cắp tài sản, ý thức chủ quan của người phạm tội vẫn là lén lút, bí mật che giấu hành vi đối với bất kì người nào khác, ý thức che giấu này có thể là: Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội, như che giấu đối với chủ tài sản hoặc chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi phạm tội. “Lén lút, bí mật“ với người có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản và còn có thể đối với người khác mà người phạm tội cho rằng có thể cản trở hành vi phạm tội của mình. Đây là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu giếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ.
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Để xác định tội phạm đã hoàn thành hay không phải dựa vào đặc điểm, vị trí của tài sản bị chiếm đoạt trong từng trường hợp cụ thể. 9 Dấu hiệu hậu quả của hành vi đã được quy định tại điều luật cụ thể về định lượng, đó là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên, nếu dưới hai triệu thì phải thuộc một trong các trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168 (Tội cướp tài sản), 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), 171 (Tội cướp giật tài sản), 172 (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản) , 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), 175 (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) và 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) của Bộ luật hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.207] - Chủ thể của tội trộm cắp tài sản Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và đạt độ tuổi theo quy định (từ đủ 16 tuổi đối với khoản 1, 2 [18, tr.207]; từ đủ 14 tuổi đới với khoản 3, 4 [18, tr. Năng lực trách nhiệm hình sự là trạng thái tâm lý bình thường của con người ở thời điểm người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hành vi do mình thực hiện và điều khiển hành vi đó.
Khả năng con người phải chịu trách nhiệm hình sự bởi hành vi của mình gây ra trước xã hội gắn với trạng thái tâm lý tại thời điểm thực hiện hành vi đó. - Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích vụ lợi. Cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, mong muốn hậu quả xảy ra [29,tr. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
Từ khái niệm và phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về phòng ngừa tình 10 hình tội trộm cắp tài sản như sau: Phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản là quá trình hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm mục đích loại trừ hướng đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tải sản để ngăn chặn, hạn chế và từng bước tiến tới loại bỏ tình hình tội trộm cắp tài sản ra khỏi đời sống xã hội.