chương I); (2) Đào Trí Úc (chủ biên, 2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, NXB CTQG (mục II, chương V); (3) Đỗ Ngọc Hải (2009), Bàn về pháp chế XHCN trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 1 (4) Võ Khánh Vinh (1991), Pháp chế XHCN – một phương thức thể hiện và thực hiện quyền lực nhân dân, Tạp chí NN và PL, số 1; BĐPC tức đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, đó chính là thừa nhận những giá trị tiến bộ khác như dân chủ, văn minh, nhân đạo, vì con người. Để có pháp chế, pháp luật phải bảo vệ được các quyền, tự do của công dân, của tập thể và các tổ chức chứ không phải pháp luật chung chung. Các tác giả có các nghiên cứu thể hiện quan điểm này như: (1) Hoàng Thị Kim Quế (2013), Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nhà nước pháp quyền và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 2; (2) Nguyễn Tiến Hiệp (2014), Mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật luan an 14 trong công vụ, Tạp chí quản lý nhà nước, số 1; (4) Nguyễn Minh Đoan (2008), Pháp luật với công bằng xã hội, Tạp chí NN và PL, số 12; (5) Hồ Sỹ Sơn (2009), Mối liên hệ giữa nhân đạo và pháp luật, Tạp chí NN và PL, số 1. Về khái niệm cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Thứ nhất, về khái niệm cơ chế pháp lý Cơ chế pháp lý là một chỉnh thể gồm các thể chế pháp lý và các thiết chế của nhà nước gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng vận hành nhằm thực hiện mục đích đặt ra.
Quan điểm này được nêu trong các công trình sau: (1) Nguyễn Minh Đoan (chủ biên, 2016), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay, NXB CTQG; (2) Võ Khánh Vinh (2011, chủ biên), Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Viện Khoa học xã hội, NXB KHXH; (3) Các luận án tiến sĩ: Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội; Nguyễn Mạnh Bình (2010), Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hà Nội. Thứ hai, về khái niệm cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Theo các tác giả như: (1) Vũ Thư (2006), Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí NN và PL. số 12; (2) Nguyễn Minh Đoan (chủ biên, 2016), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay, NXB CTQG thì cơ chế kiểm soát quyền hành pháp và hành chính là hệ thống các phương thức, khả năng và quy tắc được ghi nhận để thông qua đó biết được quyền lực hành pháp đang làm gì, làm như thế nào và khống chế, điều chỉnh được. Cơ chế pháp lý được cấu thành từ: thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm cho sự vận hành của cơ chế.
Các bài viết thể hiện sự đồng tình về quan điểm này như: (1) Lê Thiên Hương (2014), Về cơ chế kiểm tra, giám sát đối với bộ máy hành chính nhà nước, Tạp chí QLNN. số 4; (2) Trường hành chính trung ương (1988), Những cơ sở khoa học và lý luận về quản lý nhà nước XHCN, chương VIII, NXB Sự Thật. Nội dung và thực trạng của thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước là tổng thể những quy định pháp luật về các phương thức kiểm soát HĐHC nhằm bảo đảm sự hợp pháp của hoạt động này. Khi khảo sát tổng thể về thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước, theo chúng tôi, các nội dung cơ bản quyết định đến hiệu quả BĐPC của cơ chế pháp lý bao luan an 15 gồm: thứ nhất, phạm vi HĐHC nhà nước được BĐPC bởi cơ chế pháp lý; thứ hai, thẩm quyền BĐPC trong HĐHC nhà nước; thứ ba, cơ chế làm phát sinh quan hệ BĐPC trong HĐHC nhà nước và thứ tư là mức độ BĐPC của cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước.
Thứ nhất, phạm vi HĐHC nhà nước được BĐPC bởi cơ chế pháp lý hiện hành Theo pháp luật hiện hành, HĐHC được BĐPC bởi cơ chế pháp lý được xác định theo các phương thức cụ thể. Theo đó, với phương thức khiếu nại, giải quyết khiếu nại và phương khiếu kiện, HĐHC được BĐPC là các QĐHC, HVHC; với phương thức kiểm tra xử lý văn bản thì đối tượng được hướng đến là QĐHC quy phạm; phương thức giám sát thì có đối tượng rộng hơn, không giới hạn các HĐHC được giám sát. Theo đó, phạm vi HĐHC được BĐPC bởi cơ chế pháp lý vừa hẹp, thiếu bao quát nhưng cũng vừa rộng, thiếu trọng tâm. Các công trình nghiên cứu có đề cập vấn đề này chủ yếu đánh giá theo phương thức cụ thể.
Với phương thức kiểm tra, thanh tra: các nội dung cơ bản của các phương thức này được nghiên cứu bởi các công trình như: (1) Đinh Văn Mậu (2003), Kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền hành chính nhà nước và Phạm Tuấn Khải (2003), Tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ, trong cuốn “Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay” (Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh đồng chủ biên); (2) Bùi Thị Đào (2015), Tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, NXB Chính trị quốc gia (chương 4); (3) Đoàn Thị Tố Uyên (2012), Luận án tiến sĩ, Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Đại học Luật Hà Nội; (4) Trần Đức Lượng (Chủ nhiệm, 2002), Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; 5) Đinh Văn Minh (2016), Bàn về chức năng giám sát hành chính của cơ quan thanh tra Chính phủ, Tạp chí Thanh tra, số 5; Với phương thức khiếu nại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tố cáo, các công trình nghiên cứu trực tiếp như: (1) Bùi Xuân Đức (2008), Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5; (2) Đinh Văn Minh (2015), Khiếu nại hành chính: lịch sử phát triển và những vấn đề thực tiễn, NXB Hồng Đức; (3) Vũ Duy Duẩn (2014), Luận án tiến sĩ, Khiếu nại, tố cáo: phương thức BĐPC, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước. Về phương thức khiếu kiện tại Toà án, phạm vi HĐHC được BĐPC bằng Tòa án: là các QĐHC, HVHC được xác định là “đối tượng xét xử của TAND”. Các bài viết luan an 16 nổi bật nghiên cứu vấn đề này gồm: (1) Phạm Hồng Thái (chủ biên, 2001), QĐHC, HVHC – Đối tượng xét xử của Tòa án, NXB Tổng hợp Đồng Nai; (2) Nguyễn Thanh Bình (2004), Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án – sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa nhà nước và công dân, NXB Tư pháp; (3) Lương Thanh Cường (2010), Tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC, trong cuốn sách Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, Nguyễn Như Phát và Nguyễn Thị Việt Hương đồng chủ biên, NXB KHXH; (4) Đinh Văn Mậu (1997), Những HĐHC thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án, Tạp chí Luật học, số 5; (5) Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính: sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần được hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 9. Về phương thức giám sát của cơ quan dân cử, các thiết chế độc lập thì có phạm vi kiểm soát rộng hơn các phương thức do bộ máy hành chính thực hiện.
Về vấn đề này, có quan điểm sau: (1) Các bài viết: Trần Ngọc Đường (2003), Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội: Đối tượng, nội dung, phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý; Phạm Hồng Thái, về phạm vi, hình thức giám sát của Quốc hội, trong cuốn sách sách Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước do Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh đồng chủ biên, NXB CAND, 2003; (2) Nguyễn Sĩ Dũng, Vũ Công Giao (chủ biên), Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp, Viện Chính sách công và pháp luật. Theo tác giả, thể chế giám sát của cơ quan dân cử nói chung còn bất cập như: phạm vi giám sát của Quốc hội và HĐND rất rộng, dàn trải, không phù hợp với tính chất, điều kiện của cơ quan dân cử, chưa phân định rõ phạm vi giám sát đối với từng chủ thể giám sát; hoặc theo tác giả Nguyễn Sĩ Dũng (2016), Giám sát Quốc hội: vấn đề khái niệm, Tạp chí Tia sáng, bản điện tử đăng tại http://tiasang.vn thì phạm vi giám sát của Quốc hội Việt Nam thiếu tập trung, giám sát cả những hoạt động mà nhìn chung Nghị viện ở các nước không giám sát. Thứ hai, thẩm quyền BĐPC trong HĐHC nhà nước Đối với phương thức thanh tra: thẩm quyền thanh tra theo pháp luật hiện hành được quy định chung chung, chủ yếu mang tính phối hợp với các phương thức khác. Các tác giả có quan điểm này như: (1) Đinh Văn Minh (2016), Chức năng giám sát hành chính của cơ quan thanh tra Chính phủ, Tạp chí Thanh tra, số 6; (2) Đỗ Thị Hằng (2016), Bàn về những ưu điểm, hạn chế khi thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra, Tạp chí thanh tra, số 6; (3) Nguyễn Huy Hoàng (2016), Thực trạng về thực hiện quyền yêu cầu trong hoạt động thanh tra hành chính, Tạp chí thanh tra, số 9.
luan an 17 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo: Pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống và chưa rõ ràng về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.