Cơ chế pháp lý và vai trò của nó trong bảo đảm pháp chế hoạt động hành chính nhà nước

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

202
7
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.2. Về pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước và yêu cầu của việc bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.3. Về cơ chế bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.4. Về nội dung của các phương thức trong cơ chế bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.5. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.6. Về pháp chế và sự cần thiết bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước ở Việt Nam

1.7. Về khái niệm cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.8. Nội dung và thực trạng của thể chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.9. Về thiết chế bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.10. Về các điều kiện bảo đảm vận hành cơ chế bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.11. Về vấn đề hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

1.12. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.13. Về các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài

1.14. Về các nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài

1.15. Những vấn đề cần nghiên cứu của Luận án, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.1. Khái niệm, bản chất của pháp chế

2.1.1. Khái niệm pháp chế

2.1.2. Bản chất của pháp chế

2.1.3. Hoạt động hành chính nhà nước và sự cần thiết bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

2.1.4. Khái niệm, nội dung và phạm vi của hoạt động hành chính nhà nước

2.1.5. Sự cần thiết bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

2.2. Khái niệm, các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

2.2.1. Khái niệm cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

2.2.2. Các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

2.2.3. Vai trò của cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1. Thể chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hệ thống hành chính nhà nước

3.1.1. Nội dung cơ bản của thể chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hệ thống hành chính nhà nước

3.1.2. Bất cập của thể chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

3.2. Thiết chế bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

3.2.1. Nội dung cơ bản của thiết chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hệ thống hành chính nhà nước

3.2.2. Bất cập của tổ chức bộ máy bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

3.3. Các điều kiện bảo đảm cho sự vận hành của cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

3.4. Kết quả bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước của cơ chế pháp lý hiện hành

4. CHƯƠNG 4: NGUYÊN NHÂN BẤT CẬP, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

4.1. Nguyên nhân bất cập của cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước ở nước ta

4.2. Phương hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

4.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

4.2.2. Mục tiêu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

4.2.3. Những giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

4.2.3.1. Những giải pháp chung
4.2.3.2. Giải pháp trực tiếp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước

Pháp chế là một khái niệm quan trọng trong hoạt động hành chính nhà nước. Pháp lý không chỉ là việc tuân thủ các quy định mà còn là sự đảm bảo quyền lợi của công dân. Bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước là yêu cầu thiết yếu để duy trì trật tự và công bằng xã hội. Hoạt động hành chính cần phải được thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo dựng niềm tin của người dân vào chính quyền. Theo đó, quy định pháp luật cần phải được thực thi một cách nghiêm túc, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và tổ chức. Việc giám sát hành chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp của các quyết định hành chính. Sự cần thiết của việc bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước không chỉ nằm ở việc tuân thủ pháp luật mà còn ở việc nâng cao hiệu quả và chất lượng phục vụ của các cơ quan nhà nước.

1.1. Khái niệm và bản chất của pháp chế

Khái niệm pháp chế được hiểu là hệ thống các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các hoạt động của nhà nước và công dân. Bản chất của pháp chế là sự tuân thủ pháp luật, đảm bảo rằng mọi hành động của cơ quan nhà nước đều phải dựa trên cơ sở pháp lý. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn tạo ra một môi trường pháp lý ổn định cho sự phát triển của xã hội. Cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước cần phải được thiết lập một cách đồng bộ và hiệu quả. Các yếu tố cấu thành cơ chế này bao gồm quy định pháp luật, tổ chức thực hiện và giám sát. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố này sẽ tạo ra một hệ thống hành chính minh bạch và hiệu quả.

II. Thực trạng cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước ở Việt Nam

Thực trạng cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều bất cập. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc hoàn thiện quy định pháp luật, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Các cơ quan hành chính thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các quy định pháp luật do thiếu sự đồng bộ và rõ ràng trong các văn bản hướng dẫn. Trách nhiệm hành chính của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật cũng chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến tình trạng lạm quyền và vi phạm pháp chế. Hệ thống giám sát hành chính cũng chưa phát huy được hiệu quả, khi mà quyền lợi công dân chưa được bảo vệ một cách đầy đủ. Việc cải cách hành chính cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, từ việc hoàn thiện thể chế đến việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức.

2.1. Những bất cập trong thể chế pháp lý

Thể chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước hiện nay còn nhiều bất cập. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật còn chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực thi. Công vụtổ chức hành chính chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng lạm quyền và vi phạm pháp chế. Hệ thống giám sát cũng chưa đủ mạnh để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những bất cập này, từ việc hoàn thiện quy định pháp luật đến việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức.

III. Nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế

Nguyên nhân của những bất cập trong cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước chủ yếu xuất phát từ việc thiếu sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc thực thi pháp luật không hiệu quả. Để hoàn thiện cơ chế này, cần có những giải pháp cụ thể như: hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường giám sát hành chính, và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức. Việc xây dựng một hệ thống pháp lý đồng bộ, rõ ràng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp trong hoạt động hành chính. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Chỉ khi nào cơ chế pháp lý được hoàn thiện, quyền lợi của công dân mới được bảo vệ một cách tốt nhất.

3.1. Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý

Để hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Thứ nhất, cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất. Thứ hai, cần tăng cường giám sát hành chính thông qua việc thiết lập các cơ chế kiểm tra, thanh tra hiệu quả. Thứ ba, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức để họ có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Cuối cùng, cần tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, nơi mà quyền lợi của công dân được bảo vệ một cách tốt nhất. Chỉ khi thực hiện đồng bộ các giải pháp này, cơ chế pháp lý bảo đảm pháp chế trong hoạt động hành chính nhà nước mới có thể hoạt động hiệu quả.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I); (2) Đào Trí Úc (chủ biên, 2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, NXB CTQG (mục II, chương V); (3) Đỗ Ngọc Hải (2009), Bàn về pháp chế XHCN trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 1 (4) Võ Khánh Vinh (1991), Pháp chế XHCN – một phương thức thể hiện và thực hiện quyền lực nhân dân, Tạp chí NN và PL, số 1; BĐPC tức đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, đó chính là thừa nhận những giá trị tiến bộ khác như dân chủ, văn minh, nhân đạo, vì con người. Để có pháp chế, pháp luật phải bảo vệ được các quyền, tự do của công dân, của tập thể và các tổ chức chứ không phải pháp luật chung chung. Các tác giả có các nghiên cứu thể hiện quan điểm này như: (1) Hoàng Thị Kim Quế (2013), Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nhà nước pháp quyền và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 2; (2) Nguyễn Tiến Hiệp (2014), Mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật luan an 14 trong công vụ, Tạp chí quản lý nhà nước, số 1; (4) Nguyễn Minh Đoan (2008), Pháp luật với công bằng xã hội, Tạp chí NN và PL, số 12; (5) Hồ Sỹ Sơn (2009), Mối liên hệ giữa nhân đạo và pháp luật, Tạp chí NN và PL, số 1. Về khái niệm cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Thứ nhất, về khái niệm cơ chế pháp lý Cơ chế pháp lý là một chỉnh thể gồm các thể chế pháp lý và các thiết chế của nhà nước gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng vận hành nhằm thực hiện mục đích đặt ra.

Quan điểm này được nêu trong các công trình sau: (1) Nguyễn Minh Đoan (chủ biên, 2016), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay, NXB CTQG; (2) Võ Khánh Vinh (2011, chủ biên), Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Viện Khoa học xã hội, NXB KHXH; (3) Các luận án tiến sĩ: Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội; Nguyễn Mạnh Bình (2010), Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hà Nội. Thứ hai, về khái niệm cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Theo các tác giả như: (1) Vũ Thư (2006), Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí NN và PL. số 12; (2) Nguyễn Minh Đoan (chủ biên, 2016), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay, NXB CTQG thì cơ chế kiểm soát quyền hành pháp và hành chính là hệ thống các phương thức, khả năng và quy tắc được ghi nhận để thông qua đó biết được quyền lực hành pháp đang làm gì, làm như thế nào và khống chế, điều chỉnh được. Cơ chế pháp lý được cấu thành từ: thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm cho sự vận hành của cơ chế.

Các bài viết thể hiện sự đồng tình về quan điểm này như: (1) Lê Thiên Hương (2014), Về cơ chế kiểm tra, giám sát đối với bộ máy hành chính nhà nước, Tạp chí QLNN. số 4; (2) Trường hành chính trung ương (1988), Những cơ sở khoa học và lý luận về quản lý nhà nước XHCN, chương VIII, NXB Sự Thật. Nội dung và thực trạng của thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước Thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước là tổng thể những quy định pháp luật về các phương thức kiểm soát HĐHC nhằm bảo đảm sự hợp pháp của hoạt động này. Khi khảo sát tổng thể về thể chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước, theo chúng tôi, các nội dung cơ bản quyết định đến hiệu quả BĐPC của cơ chế pháp lý bao luan an 15 gồm: thứ nhất, phạm vi HĐHC nhà nước được BĐPC bởi cơ chế pháp lý; thứ hai, thẩm quyền BĐPC trong HĐHC nhà nước; thứ ba, cơ chế làm phát sinh quan hệ BĐPC trong HĐHC nhà nước và thứ tư là mức độ BĐPC của cơ chế pháp lý BĐPC trong HĐHC nhà nước.

Thứ nhất, phạm vi HĐHC nhà nước được BĐPC bởi cơ chế pháp lý hiện hành Theo pháp luật hiện hành, HĐHC được BĐPC bởi cơ chế pháp lý được xác định theo các phương thức cụ thể. Theo đó, với phương thức khiếu nại, giải quyết khiếu nại và phương khiếu kiện, HĐHC được BĐPC là các QĐHC, HVHC; với phương thức kiểm tra xử lý văn bản thì đối tượng được hướng đến là QĐHC quy phạm; phương thức giám sát thì có đối tượng rộng hơn, không giới hạn các HĐHC được giám sát. Theo đó, phạm vi HĐHC được BĐPC bởi cơ chế pháp lý vừa hẹp, thiếu bao quát nhưng cũng vừa rộng, thiếu trọng tâm. Các công trình nghiên cứu có đề cập vấn đề này chủ yếu đánh giá theo phương thức cụ thể.

Với phương thức kiểm tra, thanh tra: các nội dung cơ bản của các phương thức này được nghiên cứu bởi các công trình như: (1) Đinh Văn Mậu (2003), Kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền hành chính nhà nước và Phạm Tuấn Khải (2003), Tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ, trong cuốn “Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay” (Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh đồng chủ biên); (2) Bùi Thị Đào (2015), Tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, NXB Chính trị quốc gia (chương 4); (3) Đoàn Thị Tố Uyên (2012), Luận án tiến sĩ, Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Đại học Luật Hà Nội; (4) Trần Đức Lượng (Chủ nhiệm, 2002), Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; 5) Đinh Văn Minh (2016), Bàn về chức năng giám sát hành chính của cơ quan thanh tra Chính phủ, Tạp chí Thanh tra, số 5; Với phương thức khiếu nại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tố cáo, các công trình nghiên cứu trực tiếp như: (1) Bùi Xuân Đức (2008), Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5; (2) Đinh Văn Minh (2015), Khiếu nại hành chính: lịch sử phát triển và những vấn đề thực tiễn, NXB Hồng Đức; (3) Vũ Duy Duẩn (2014), Luận án tiến sĩ, Khiếu nại, tố cáo: phương thức BĐPC, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước. Về phương thức khiếu kiện tại Toà án, phạm vi HĐHC được BĐPC bằng Tòa án: là các QĐHC, HVHC được xác định là “đối tượng xét xử của TAND”. Các bài viết luan an 16 nổi bật nghiên cứu vấn đề này gồm: (1) Phạm Hồng Thái (chủ biên, 2001), QĐHC, HVHC – Đối tượng xét xử của Tòa án, NXB Tổng hợp Đồng Nai; (2) Nguyễn Thanh Bình (2004), Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án – sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa nhà nước và công dân, NXB Tư pháp; (3) Lương Thanh Cường (2010), Tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC, trong cuốn sách Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, Nguyễn Như Phát và Nguyễn Thị Việt Hương đồng chủ biên, NXB KHXH; (4) Đinh Văn Mậu (1997), Những HĐHC thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án, Tạp chí Luật học, số 5; (5) Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính: sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần được hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 9. Về phương thức giám sát của cơ quan dân cử, các thiết chế độc lập thì có phạm vi kiểm soát rộng hơn các phương thức do bộ máy hành chính thực hiện.

Về vấn đề này, có quan điểm sau: (1) Các bài viết: Trần Ngọc Đường (2003), Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội: Đối tượng, nội dung, phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý; Phạm Hồng Thái, về phạm vi, hình thức giám sát của Quốc hội, trong cuốn sách sách Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước do Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh đồng chủ biên, NXB CAND, 2003; (2) Nguyễn Sĩ Dũng, Vũ Công Giao (chủ biên), Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp, Viện Chính sách công và pháp luật. Theo tác giả, thể chế giám sát của cơ quan dân cử nói chung còn bất cập như: phạm vi giám sát của Quốc hội và HĐND rất rộng, dàn trải, không phù hợp với tính chất, điều kiện của cơ quan dân cử, chưa phân định rõ phạm vi giám sát đối với từng chủ thể giám sát; hoặc theo tác giả Nguyễn Sĩ Dũng (2016), Giám sát Quốc hội: vấn đề khái niệm, Tạp chí Tia sáng, bản điện tử đăng tại http://tiasang.vn thì phạm vi giám sát của Quốc hội Việt Nam thiếu tập trung, giám sát cả những hoạt động mà nhìn chung Nghị viện ở các nước không giám sát. Thứ hai, thẩm quyền BĐPC trong HĐHC nhà nước Đối với phương thức thanh tra: thẩm quyền thanh tra theo pháp luật hiện hành được quy định chung chung, chủ yếu mang tính phối hợp với các phương thức khác. Các tác giả có quan điểm này như: (1) Đinh Văn Minh (2016), Chức năng giám sát hành chính của cơ quan thanh tra Chính phủ, Tạp chí Thanh tra, số 6; (2) Đỗ Thị Hằng (2016), Bàn về những ưu điểm, hạn chế khi thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra, Tạp chí thanh tra, số 6; (3) Nguyễn Huy Hoàng (2016), Thực trạng về thực hiện quyền yêu cầu trong hoạt động thanh tra hành chính, Tạp chí thanh tra, số 9.

luan an 17 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo: Pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống và chưa rõ ràng về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề Cơ chế pháp lý và vai trò của nó trong bảo đảm pháp chế hoạt động hành chính nhà nước của tác giả Dương Hoán, dưới sự hướng dẫn của Gs. Phạm Hồng Thái, trình bày một cái nhìn sâu sắc về cơ chế pháp lý trong hoạt động hành chính nhà nước. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập và duy trì pháp chế trong quản lý hành chính, từ đó đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong các quyết định hành chính. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ cơ chế này, giúp nâng cao nhận thức về vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các hoạt động của nhà nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Kỷ yếu hội thảo khoa học về quyết định hành chính và hành vi hành chính: Lý luận và thực tiễn, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong thực tiễn. Ngoài ra, bài viết Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực tư pháp tại Ủy ban Nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng dịch vụ hành chính công và những thách thức trong việc thực hiện pháp chế. Cuối cùng, bài viết Luận Án Về Biện Pháp Ngăn Chặn Hành Chính Trong Pháp Luật Việt Nam sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn hành chính, từ đó làm rõ hơn về vai trò của pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước. Những tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về cơ chế pháp lý trong hoạt động hành chính.