Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực thông tin – thư viện của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an tại khu vực Hà Nội Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực thông tin – thư viện của một số một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an tại khu vực Hà Nội Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực thông tin – thư viện của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an tại khu vực Hà Nội 10. Dự kiến kết quả nghiên cứu: Với dung lượng khoảng 100 trang với kết cấu 3 chương, Luận văn sẽ tập trung vào một số nội dung sau: - Hoàn thiện những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực TT-TV z 11 - Đánh giá đúng thực trạng nghiên cứu về nguồn nhân lực thông tin – thư viện của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an trên khu vực Hà Nội. - Nhận xét đúng các mặt mạnh, điểm hạn chế, nguyên nhân. - Đề ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông tin – thư viện của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an trên khu vực Hà Nội.
z 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÔNG TIN-THƢ VIỆN TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC BỘ CÔNG AN Ở HÀ NỘI 1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực thông tin – thƣ viện 1. Nguồn nhân lực Có thể nói, nội hàm khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đã được nhiều công trình đề cập đến. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Tuỳ theo cách tiếp cận nghiên cứu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: - Nguồn nhân lực (NNL) là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực là nói đến trí óc, bắp thịt, thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh. - Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động. - Lại có quan niệm, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng của NNL, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần,. - Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Từ định nghĩa này ta có thể hiểu nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi).
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong z 13 độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Như vậy, cần phải hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách đạo đức của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.
Có thể nói rằng, nòng cốt của mọi hoạt động là đội ngũ cán bộ chuyên gia. Nguồn nhân lực thông tin – thư viện Theo PGS.TS Trần Thị Quý: “Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên con người/nhân sự cùng các vấn đề liên quan đến con người/nhân sự trong hoạt động của cơ quan thông tin – thư viện nói chung và hệ thống cơ quan thông tin – thư viện đại học nói riêng”. Nguồn nhân lực được phân bố rất rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động như: hành chính, nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh,… Tuy nhiên, có thể hiểu nguồn nhân lực TT-TV là đội ngũ cán bộ viên chức trong mọi hoạt động hành chính của lĩnh vực TT-TV. Nguồn nhân lực TT-TV trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các cán bộ, viên chức hoạt động tại các Trung tâm TT-TV tại cơ sở đào tạo thuộc Bộ CA.
Vì vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực TT-TV trong mạng lưới này là nguồn tài nguyên con người/nhân sự với các tiềm năng lao động tham gia hoạt động trong hệ thống các cơ quan TT-TV tại cơ sở đào tạo của lực lượng vũ trang. Nguồn nhân lực TT-TV trong mạng lưới này vừa mang những đặc điểm chung của nguồn nhân lực TT-TV ở Việt Nam, vừa mang đặc điểm riêng do tính chất đặc thù của môi trường giáo dục tại một số cơ sở đào tạo thuộc Bộ CA quy định. Phát triển nguồn nhân lực thông tin –thư viện Phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và thái độ cá nhân người lao động để họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ. z 14 Với quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực” thì phát triển nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
Với quan điểm trên, nội hàm khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm: - Về mục tiêu, phát triển nguồn nhân lực là hoàn thiện và nâng cao năng lực lao động và năng lực sáng tạo của nguồn lực con người trong doanh nghiệp cho phù hợp với công việc trong hiện tại và thích ứng với sự đổi mới trong tương lai. - Về tính chất, phát triển nguồn nhân lực là một quá trình mang tính liên tục và chiến lược nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp về nguồn lực con người. - Về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: hợp lý hóa quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, phát triển nguồn nhân lực về chất lượng (trên cả 3 phương diện thể lực, trí lực và tâm lực) là nội dung trọng yếu.
Phát triển nguồn nhân lực TT-TV được hiểu là quá trình làm thay đổi cả về mặt số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội nói chung và nhu cầu phát triển của hoạt động TT-TV nói riêng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, phát triển nguồn nhân lực TT-TV tại một số cơ sở đào tạo thuộc Bộ CA có thể hiểu là: sự phát triển về mặt số lượng (quy mô nguồn nhân lực TT-TV, cơ cấu về giới và độ tuổi) và chất lượng của nguồn nhân lực (trình độ, nhân cách đạo đức, các kỹ năng, sức khỏe,. Phát triển nguồn nhân lực TT-TV phải gắn với nhu cầu xã hội và những đòi hỏi phát triển nghề. Phát triển nguồn nhân lực chính là giải pháp để đưa hoạt động TT-TV của mạng lưới phát triển cùng với sự phát triển của giáo dục đại học.
Vì vậy, đối với mạng lưới thư viện các trường đại học nói chung và mạng lưới các trường đào tạo thuộc lực lượng vũ trang nói riêng thì phát triển nguồn nhân lực đang là vấn đề quan tâm hàng đầu. z 15 Trong giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế thì phát triển nguồn nhân lực TT-TV là yêu cầu quan trọng và quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng. Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực Thông tin – Thƣ viện 1. Cơ chế, chính sách Đất nước chúng ta đang thực hiện CNH-HĐH, mục tiêu xây dựng đất nước giàu đẹp, dân chủ, văn minh, công bằng, hạnh phúc.
Để thực hiện mục tiêu trên, mọi ngành, mọi lĩnh vực của đất nước phải thực hiện hiện đại hóa để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, phục vụ đắc lực công cuộc CNH-HĐH đất nước. Trong lĩnh vực thư viện, hiện đại hóa thư viện đã trở thành mục tiêu chiến lược phát triển các thư viện ở Việt Nam. Hiện nay, ngành thư viện đang từng bước thực hiện hiện đại hóa. Chính sách và chế độ đãi ngộ thích hợp là một trong những động lực nhằm duy trì khả năng lao động, kích thích khả năng sáng tạo của người lao động, giúp họ gắn bó với nghề và đạt hiệu quả cao trong công việc.
Các cơ chế, chính sách cho người lao động nói chung và người lao động trong hoạt động TT-TV nói riêng phải đảm bảo cho người lao động có những quyền lợi về chính trị, tinh thần, đảm bảo đời sống vật chất. Để tăng cường sự quản lý của nhà nước, đảm bảo cho sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, phù hợp và tiến kịp với xu thế chung của thế giới, đặc biệt để các thư viện đáp ứng tốt yêu cầu CNH-HĐH đất nước thì Nhà nước đã ban hành một số chính sách như: - Pháp lệnh Thư viện ban hành năm 2000. - Nghị định số 56/1998 NĐ-CP ngày 30/7/1998 quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng. - Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ.
- Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 6/8/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. z 16 - Thông tư 25/2006/TT-BVHTT ngày 21/02/2006 của Bộ Văn hóa Thể thao hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại.