Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động thông tin – thư viện, biên mục giữ vai trò tổ chức khoa học nguồn lực thông tin và thiết lập các điểm truy cập để người dùng tiếp cận tài liệu. Trước sự gia tăng nhanh chóng của thông tin và tính đa dạng trong nhu cầu tin, việc kiểm soát thư mục đòi hỏi độ chính xác và thống nhất cao. Nếu các thư viện biên mục độc lập sẽ phát sinh hiện tượng trùng lặp công việc, gia tăng chi phí nhân lực, vật lực, tài lực, đồng thời chất lượng dữ liệu không đồng đều. Hợp tác, liên thông và chia sẻ thông tin là xu thế khách quan nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động với chi phí tối thiểu.

Tại Việt Nam, Hệ thống thư viện công cộng đã triển khai biên mục tập trung từ những năm 60 của thế kỷ XX nhưng hiệu quả thực tế chưa cao. Nhiều thư viện công cộng vẫn hoạt động khép kín, đơn lẻ; dữ liệu biên mục bị trùng lặp; hiệu suất và chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu; việc kiểm soát tính thống nhất giữa các đơn vị trong cùng hệ thống còn khó khăn. Bối cảnh triển khai "Chương trình chuyển đổi số ngành Thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 11/2/2021) đặt mục tiêu đến năm 2025: Thư viện Quốc gia Việt Nam và 100% thư viện công cộng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số, thực hiện liên thông và chia sẻ sản phẩm thông tin thư viện. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam mang tính cấp thiết rõ rệt.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả biên mục tập trung cho Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam được thực hiện như thế nào? Hiệu quả biên mục tập trung ở mức nào?
  2. Mô hình biên mục tập trung nào được áp dụng trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam? Mô hình đó có phù hợp với điều kiện hiện tại không?
  3. Để nâng cao hiệu quả biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam cần phải thực hiện các giải pháp nào?

Giả thuyết khoa học

  1. Biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam đã được áp dụng tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao do hành lang pháp lý chưa đầy đủ và hoàn thiện; hoạt động biên mục trong hệ thống chưa được chuẩn hoá và các nguồn lực biên mục tập trung chưa được đảm bảo.
  2. Biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam đã được triển khai theo mô hình biên mục tập trung thuần tuý nhưng chưa hoàn thiện và chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn. Một số lượng không nhỏ thư viện công cộng vẫn biên mục mang tính đơn lẻ, tự thân, khép kín, thiếu sự liên thông, liên kết giữa các thư viện. Chất lượng cũng như khả năng trao đổi, chia sẻ dữ liệu biên mục giữa các thư viện trong và ngoài nước chưa cao.
  3. Để nâng cao hiệu quả biên mục tập trung, bắt nhịp với xu thế phát triển hội nhập và chia sẻ của các thư viện trên thế giới hiện nay, cần phải thực thi một hệ thống các giải pháp đồng bộ bao gồm việc chuyển đổi từ mô hình biên mục tập trung thuần tuý sang mô hình biên mục tập trung - hợp tác, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy và cơ chế quản lý, chuẩn hóa hoạt động biên mục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng thời tăng cường các nguồn lực hỗ trợ cho hoạt động biên mục tập trung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biên mục tập trung trong thư viện.
  • Phạm vi không gian: Thư viện Quốc gia Việt Nam và Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam (bao gồm thư viện cấp tỉnh và thư viện cấp huyện; không bao gồm thư viện cấp xã).
    • Luận giải về Thư viện Quốc gia Việt Nam: Mặc dù Luật Thư viện (2019) quy định Thư viện Quốc gia Việt Nam là loại hình thư viện riêng biệt, nhưng đề tài bắt đầu từ năm 2016 khi Pháp lệnh Thư viện (2001) còn hiệu lực (quy định Thư viện Quốc gia thuộc hệ thống thư viện công cộng). Đồng thời, Điều 10 Luật Thư viện (2019) xác định Thư viện Quốc gia Việt Nam là đơn vị trung tâm cả nước, được giao nhiệm vụ thực hiện biên mục tập trung và chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung.
    • Luận giải về Thư viện cấp xã: Thư viện cấp xã chưa đảm bảo các điều kiện về kinh phí thường xuyên, trụ sở cố định, hạ tầng công nghệ và nhân sự chuyên trách để tham gia xử lý dữ liệu, do đó chỉ được xem xét là đối tượng thụ hưởng sản phẩm trong tương lai.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1962 (thời điểm hình thành hoạt động biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng) đến năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu quốc tế về lý luận và mô hình biên mục tập trung:
    • Khái niệm và cấu trúc biên mục: Các tác giả David M. Levy (1995), K. Chollom và Abubakar Daniel (2013), Joan M. Reitz (2004), Salman Haider (2016), Lois Mai Chan (2007), Daniel N. Joudrey và David P. Miller (2015) đã định hình hai xu hướng tiếp cận: xu hướng truyền thống (mô tả thư mục và phân tích chủ đề) và xu hướng hiện đại (bổ sung kiểm soát tính nhất quán).
    • Biên mục tập trung và biên mục hợp tác: Các công trình của Dwijendranath Dutta (1963), Lucile M. Morsch (1953), Anil Kumar Dhiman (2004), C. Sharma, Akhil Kumar Singh và Rakesh Kumar (2010), Josephine Riss Fang (1980), C. D. Needham (1971) làm rõ bản chất kiểm soát dữ liệu tại đơn vị trung tâm và tái sử dụng biểu ghi. Các nghiên cứu của Janet S. Dickson, Mary Lathrop Eckford, Ralph Ellsworth, Esther J. Piercy và Robert L. Talmadge (1967), Barry B. Baker (1994), Rebecca L. Mugridge (2007, 2013), Valerie Horton và Greg Pronevitz (2015), Andrew Lass và Richard E. Quandt (2000) đã phân tích mô hình biên mục tập trung thuần túy, mô hình biên mục tập trung - hợp tác và các chương trình thực tế như OCLC, LC, BIBCO, CONSER, NACO, SACO.
    • Tác động của công nghệ: S. Ranganathan, Ravindra N. Sharma (2012), Gillian McComb (1986), Hong Xu (1996), Elise Yong (2014) khảo cứu sự chuyển dịch từ biên mục thủ công sang biên mục sao chép, tự động hóa và vai trò quản trị cơ sở dữ liệu của nhân viên biên mục.
  2. Nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Chuẩn hóa nghiệp vụ và liên thông thư viện: Lâm Vĩnh Thế (2010) phân tích tính cấp thiết của chuẩn hóa biên mục; Đức Lương và Khánh Linh (2014), Nguyễn Huy Chương (2013) nghiên cứu hợp tác và ứng dụng công nghệ trong khối thư viện đại học; Đoàn Hồng Nghĩa và cộng sự (2013, 2014) đề xuất mạng cộng đồng công cụ thư tịch.
    • Về mô hình biên mục: Vũ Văn Sơn (2006) xây dựng giáo trình biên mục mô tả và kiểm soát tính nhất quán; Vũ Dương Thúy Ngà (2001, 2013) khảo sát việc chuẩn hóa xử lý tài liệu và đề xuất mô hình cơ quan trung tâm nhằm thúc đẩy biên mục sao chép.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

  • Về mặt lý luận, các công trình trước chưa hệ thống hóa toàn diện các khái niệm công cụ về hệ thống biên mục tập trung; chưa phân tích logic cấu trúc, môi trường hoạt động và ba thành tố chức năng (đầu vào, xử lý, đầu ra) của hệ thống biên mục tập trung dưới tác động của công nghệ thông tin.
  • Về mặt thực tiễn, chưa có công trình nào phân tích có hệ thống các đặc thù của Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam để làm rõ thuận lợi, khó khăn; chưa khảo sát thực trạng toàn diện từ Thư viện Quốc gia đến thư viện cấp tỉnh, cấp huyện và chưa xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm chuyển đổi mô hình biên mục tập trung cho hệ thống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm biên mục: Luận án tiếp cận theo xu hướng hiện đại, xác định biên mục là quá trình tạo lập biểu ghi thư mục bao gồm 3 nội dung cốt lõi:
    1. Biên mục mô tả (Mô tả thư mục): Xác định và ghi nhận các thuộc tính vật lý, hình thức của tài liệu (tác giả, nhan đề, nhà xuất bản, năm, số trang...) theo quy tắc chuẩn.
    2. Biên mục chủ đề (Phân tích chủ đề): Xác định nội dung tài liệu và thể hiện qua ngôn ngữ tư liệu (từ khóa, tiêu đề chủ đề, chỉ số phân loại).
    3. Kiểm soát tính nhất quán (Authority Control): Chuẩn hóa và duy trì các điểm truy cập (tên người, tên cơ quan, nhan đề, tiêu đề chủ đề) đảm bảo tính duy nhất và thống nhất thông qua các hồ sơ tiêu đề chuẩn (authority files).
  • Khái niệm biên mục tập trung: Hoạt động biên mục hoặc cung cấp dịch vụ biên mục được thực hiện tại một thư viện/đơn vị trung tâm, kết quả được sử dụng chung cho nhiều thư viện trong cùng hệ thống. Hai thuộc tính cơ bản gồm:
    • Kiểm soát dữ liệu biên mục tại một đơn vị trung tâm.
    • Kết quả biên mục được sử dụng nhiều lần bởi nhiều đơn vị.
  • Biên mục sao chép: Việc sử dụng biểu ghi thư mục có sẵn từ cơ sở dữ liệu nguồn và điều chỉnh phù hợp với quy định biên mục nội bộ của thư viện.
  • Hệ thống biên mục tập trung:
    • Góc độ tổ chức quản lý: Gồm 3 thành tố: Bộ phận cấu thành (đơn vị trung tâm và đơn vị thành viên các cấp); Mối quan hệ tương tác (chiều dọc chỉ đạo/thực thi, chiều ngang tương hỗ); Môi trường hệ thống (hành lang pháp lý, chính sách, hạ tầng khoa học - công nghệ).
    • Góc độ chức năng: Gồm Dữ liệu đầu vào (phiếu mô tả/biểu ghi tạo lập tập trung hoặc phân tán); Xử lý (chuẩn hóa dữ liệu bởi chuyên gia và phần mềm); Kết quả đầu ra (sản phẩm, dịch vụ biên mục dạng truyền thống như phích mục lục, CIP hoặc dạng hiện đại như cơ sở dữ liệu thư mục, tệp ISO 2709).
  • Mô hình biên mục tập trung:
    • Mô hình biên mục tập trung thuần túy: Toàn bộ việc tạo lập biểu ghi do đơn vị trung tâm đảm nhận; các thư viện thành viên chỉ tiếp nhận và thụ hưởng dữ liệu; mối quan hệ vận hành một chiều từ trên xuống.
    • Mô hình biên mục tập trung - hợp tác: Đơn vị trung tâm đóng vai trò quản lý, kiểm soát chất lượng và biên mục tài liệu mới; các thư viện thành viên tham gia tạo lập dữ liệu đầu vào (biên mục gốc nguồn tài liệu địa phương) gửi về trung tâm, đồng thời được khai thác, sao chép dữ liệu từ cơ sở dữ liệu dùng chung.
  • Các yếu tố đảm bảo hoạt động: (1) Hành lang pháp lý và cơ chế quản lý; (2) Sự hợp tác giữa các thư viện; (3) Nhận thức và năng lực của lãnh đạo cùng nhân viên biên mục; (4) Hạ tầng công nghệ thông tin và mức độ ứng dụng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn với đường lối, chủ trương chuyển đổi số ngành thư viện của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
  • Phương pháp cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý tài liệu, số liệu thứ cấp, văn bản pháp quy.
    • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đánh giá các thành tố cấu thành và quy trình vận hành đầu vào - xử lý - đầu ra.
    • Phương pháp so sánh: Đối chiếu mô hình lý thuyết và thực tiễn, phân tích ưu nhược điểm của các mô hình biên mục trên thế giới và Việt Nam.
    • Phương pháp thống kê: Xử lý định lượng dữ liệu thu thập từ các phiếu điều tra.
    • Phương pháp quan sát: Khảo sát quy trình biên mục, hiệu đính và khai thác dữ liệu tại các thư viện.
    • Phương pháp mô hình hóa: Nhận dạng mô hình hiện tại và thiết kế mô hình biên mục tập trung - hợp tác đề xuất.
    • Phương pháp điều tra xã hội học (phiếu hỏi và phỏng vấn): Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng.
Phân tầng khảo sát Đơn vị tham gia Phiếu Lãnh đạo Phiếu Nhân viên biên mục Tổng phiếu thu về
Cấp Trung ương Thư viện Quốc gia Việt Nam 01 20 21
Cấp Tỉnh (22 thư viện) 8 tỉnh miền Bắc, 7 tỉnh miền Trung, 7 tỉnh miền Nam 22 79 101
Cấp Huyện (87 thư viện) 87 thư viện huyện trực thuộc 22 tỉnh khảo sát 87 92 179
Tổng cộng 110 đơn vị 110 191 301

(Tổng số phiếu phát ra: 350 phiếu; số phiếu thu về hợp lệ: 301 phiếu, đạt tỷ lệ phản hồi 86%).

  • Địa bàn khảo sát 3 miền:
    • Miền Bắc (8 địa phương): Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Lai Châu, Lào Cai, Bắc Ninh, Yên Bái, Nam Định.
    • Miền Trung (7 địa phương): Đà Nẵng, Bình Định, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Trị.
    • Miền Nam (7 địa phương): TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Cà Mau, Bạc Liêu, Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến biên mục, biên mục tập trung và biên mục hợp tác. Tác giả phân tích các khái niệm biên mục theo hai khuynh hướng, khẳng định vai trò của kiểm soát tính nhất quán và biên mục sao chép trong môi trường tự động hóa. Chương này phân tích chi tiết hai mô hình cơ bản:

  1. Mô hình biên mục tập trung thuần túy: Hoạt động theo cơ chế tập trung hóa toàn bộ khâu xử lý tại trung tâm; giúp loại bỏ trùng lặp, tiết kiệm chi phí cho cơ sở nhưng bộc lộ nhược điểm gây quá tải cho đơn vị trung tâm, tiến độ xử lý chậm và cơ sở dữ liệu không bao quát được tài nguyên thông tin riêng biệt của các địa phương.
  2. Mô hình biên mục tập trung - hợp tác: Kết hợp phân quyền xử lý dữ liệu đầu vào cho các thư viện thành viên và kiểm soát chất lượng tập trung tại đầu mối trung tâm; tối ưu hóa nguồn lực toàn hệ thống, tạo lập mục lục liên hợp và cập nhật dữ liệu kịp thời.

Chương 1 cũng phân tích lịch sử tổ chức Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam qua các giai đoạn (trước và sau khi có Luật Thư viện 2019), khảo cứu kinh nghiệm quốc tế (OCLC, Thư viện Quốc hội Mỹ - LC, Thư viện Quốc gia Anh - BNB, Thư viện Quốc gia Ấn Độ - INB, HKALL, ThaiLIS) làm bài học thực tiễn.

Chương 2: Thực trạng biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và 109 thư viện công cộng cấp tỉnh, cấp huyện. Tác giả phân tích thực trạng theo các khía cạnh cấu thành hệ thống:

  • Tổ chức và phát triển dữ liệu đầu vào: Thư viện Quốc gia Việt Nam đảm nhận vai trò trung tâm tạo lập biểu ghi qua hai hình thức: biên mục gốc và biên mục sao chép. Tuy nhiên, tỷ lệ thư viện địa phương tham gia cung cấp dữ liệu còn thấp; các thư viện cấp dưới gặp khó khăn trong việc đóng góp biểu ghi về trung tâm.
  • Xử lý dữ liệu và áp dụng chuẩn nghiệp vụ: Khảo sát cho thấy sự thiếu đồng bộ trong việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ:
    • Chuẩn mô tả: Việc chuyển đổi từ ISBD sang quy tắc AACR2 và MARC 21 chưa đồng đều giữa các cấp thư viện.
    • Chuẩn phân loại: Tồn tại sự phân tán giữa Bảng phân loại thập phân Dewey (DDC), Bảng phân loại thập phân quốc tế (UDC) và Bảng phân loại thư viện - thư mục (BBK).
    • Định chủ đề và từ khóa: Việc sử dụng Bảng tiêu đề chủ đề của Thư viện Quốc gia Việt Nam, LCSH hoặc các bộ từ khóa tự xây dựng còn tùy tiện; công tác kiểm soát tính nhất quán và tần suất hiệu đính dữ liệu chưa được thực hiện thường xuyên.
  • Khai thác sản phẩm và dịch vụ biên mục tập trung: Tỷ lệ các thư viện cấp tỉnh và cấp huyện khai thác cơ sở dữ liệu biên mục tập trung, biểu ghi CIP hoặc tệp dữ liệu phân phối từ Thư viện Quốc gia còn hạn chế. Nhiều thư viện địa phương vẫn phải tự biên mục thủ công hoặc khai thác từ các nguồn phân tán khác ngoài hệ thống.
  • Các yếu tố tác động:
    • Nhân lực: Đánh giá qua khảo sát cho thấy trình độ ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và kinh nghiệm của nhân viên biên mục cấp huyện còn nhiều bất cập; hình thức đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu.
    • Hạ tầng công nghệ và phần mềm: Thiếu sự thống nhất về phần mềm quản trị thư viện tích hợp; nhiều phần mềm chưa hỗ trợ đầy đủ các chuẩn nghiệp vụ quốc tế hoặc thiếu tính năng liên thông Z39.50.
    • Kinh phí: Tỷ lệ ngân sách hàng năm phân bổ cho hoạt động biên mục và ứng dụng công nghệ tại các thư viện công cộng địa phương còn rất thấp.

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam

Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích nguyên nhân hạn chế, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp mang tính cấu trúc:

  1. Chuyển đổi mô hình biên mục: Thiết lập quy trình chuyển đổi từ mô hình biên mục tập trung thuần túy sang mô hình biên mục tập trung - hợp tác. Phân định rõ trách nhiệm: Thư viện Quốc gia Việt Nam là trung tâm điều phối, kiểm soát chất lượng cơ sở dữ liệu dùng chung; thư viện cấp tỉnh biên mục nguồn tài liệu địa phương (địa chí) và chia sẻ biểu ghi; thư viện cấp huyện khai thác và thụ hưởng kết quả.
  2. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy và cơ chế quản lý: Xây dựng quy chế phối hợp chia sẻ dữ liệu biên mục trong toàn hệ thống; ban hành quy định bắt buộc về nộp lưu chiểu và biên mục trên xuất bản phẩm (CIP); chuẩn hóa cơ chế quản lý và kiểm tra chất lượng biểu ghi.
  3. Nhóm giải pháp về con người: Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh nhân viên biên mục; tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng định kỳ về quy tắc biên mục mới, kỹ năng kiểm soát thư mục và ứng dụng phần mềm; nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo về vai trò của liên thông cơ sở dữ liệu.
  4. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ: Thống nhất áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế trong toàn hệ thống (khổ mẫu MARC 21, quy tắc AACR2 hướng tới RDA, khung phân loại DDC, Bảng tiêu đề chủ đề Thư viện Quốc gia biên soạn); xây dựng và chuẩn hóa hệ thống tệp hồ sơ tiêu đề chuẩn (authority files).
  5. Nhóm giải pháp hỗ trợ: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin; trang bị và chuẩn hóa phần mềm quản trị thư viện có khả năng tương thích cao; đảm bảo nguồn kinh phí thường xuyên cho công tác xử lý thông tin và kết nối mạng liên hợp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về biên mục tập trung trong lĩnh vực Thông tin – Thư viện dưới bối cảnh chuyển đổi số.
  • Bổ sung, hoàn thiện định nghĩa và nội hàm của các khái niệm công cụ: Biên mục, Biên mục tập trung, Hệ thống biên mục tập trung, Biên mục sao chép, Kiểm soát tính nhất quán.
  • Xác lập khung phân tích hệ thống biên mục tập trung theo hai phương diện tiếp cận: tổ chức quản lý (bộ phận cấu thành, mối quan hệ, môi trường) và chức năng vận hành (đầu vào, xử lý, đầu ra); phân tích ưu - nhược điểm của mô hình thuần túy và mô hình hợp tác.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng hoạt động biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng tại Việt Nam qua số liệu điều tra tại 110 đơn vị (Thư viện Quốc gia, 22 thư viện cấp tỉnh, 87 thư viện cấp huyện) trên 3 miền Bắc, Trung, Nam.
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiệu quả biên mục tập trung chưa cao: hành lang pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu sự thống nhất về chuẩn nghiệp vụ và phần mềm, năng lực nhân sự chưa đồng đều.
  • Xây dựng mô hình biên mục tập trung – hợp tác phù hợp với cơ cấu tổ chức của Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam và lộ trình chuyển đổi mô hình gắn với "Chương trình chuyển đổi số ngành Thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ (chuyển đổi mô hình, cơ chế pháp quy, nhân lực, nghiệp vụ chuẩn hóa, hạ tầng hỗ trợ) làm căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo thư viện triển khai trong thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tế tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, 22 thư viện cấp tỉnh và 87 thư viện cấp huyện; chưa tiến hành khảo sát định lượng tại thư viện cấp xã do điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và nhân lực tại cấp này chưa đủ điều kiện tham gia trực tiếp vào quy trình tạo lập dữ liệu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các hệ thống thư viện khác (thư viện đại học, thư viện chuyên ngành, thư viện lực lượng vũ trang) để xây dựng mục lục liên hợp quốc gia hoàn chỉnh.
    • Nghiên cứu cơ chế tích hợp và chuyển đổi dữ liệu khi áp dụng các chuẩn biên mục thế hệ mới (như RDA - Resource Description and Access, mô hình IFLA LRM và chuẩn dữ liệu liên kết BIBFRAME) trong mô hình biên mục tập trung - hợp tác.
    • Đánh giá khả năng kết nối mạng lưới biên mục của thư viện cấp xã khi hạ tầng số nông thôn được hoàn thiện theo chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Xuất bản, In và Phát hành): Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để ban hành các chính sách, quy chế liên thông thư viện, quy định về biên mục trên xuất bản phẩm (CIP) và tiêu chuẩn hóa nghiệp vụ toàn quốc.
  • Đối với lãnh đạo và người làm công tác quản lý thư viện: Cung cấp mô hình tổ chức, quy trình chuyển đổi và phương thức phân bổ nguồn lực để xây dựng cơ sở dữ liệu thư mục dùng chung, giảm thiểu chi phí và nâng cao năng suất xử lý tài liệu.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên ngành Khoa học Thông tin – Thư viện: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về lý luận biên mục hiện đại, phương pháp nghiên cứu phân tầng trong thư viện học, kỹ thuật kiểm soát tính nhất quán và các mô hình tổ chức dữ liệu thư mục.
  • Đối với nhân viên biên mục tại các thư viện: Cung cấp hướng dẫn về chuẩn hóa quy trình biên mục mô tả, biên mục chủ đề, kiểm soát tiêu đề chuẩn và kỹ thuật biên mục sao chép.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Thư viện Quốc gia Việt Nam lại được đưa vào phạm vi khảo sát của luận án dù Luật Thư viện 2019 xếp đây là loại hình thư viện độc lập?

Luận án giải trình việc này dựa trên ba căn cứ: Thứ nhất, đề tài bắt đầu triển khai từ năm 2016 khi Pháp lệnh Thư viện 2001 còn hiệu lực (quy định Thư viện Quốc gia thuộc hệ thống thư viện công cộng). Thứ hai, thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 1962, phần lớn lịch sử Thư viện Quốc gia gắn liền với vai trò đầu ngành của hệ thống này. Thứ ba, Điều 10 Luật Thư viện 2019 quy định Thư viện Quốc gia là đơn vị trung tâm cả nước, được giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện biên mục tập trung và xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn dùng chung cho toàn bộ các thư viện.

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa mô hình biên mục tập trung thuần túy và mô hình biên mục tập trung – hợp tác là gì?

Ở mô hình thuần túy, đơn vị trung tâm chịu trách nhiệm biên mục toàn bộ tài liệu và phân phối xuống, các đơn vị thành viên chỉ thụ hưởng một chiều; điều này dễ dẫn đến quá tải tại trung tâm và dữ liệu không phản ánh được tài liệu địa phương. Ở mô hình hợp tác, các thư viện thành viên trực tiếp tham gia biên mục gốc các tài liệu đặc thù của địa phương rồi gửi về trung tâm; đơn vị trung tâm giữ vai trò kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa và tích hợp thành cơ sở dữ liệu mục lục liên hợp dùng chung.

3. Mẫu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu như thế nào?

Khảo sát sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng với 350 phiếu phát ra, thu về 301 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 86%). Mẫu gồm 110 lãnh đạo (1 Thư viện Quốc gia, 22 thư viện cấp tỉnh, 87 thư viện cấp huyện) và 191 nhân viên biên mục (20 Thư viện Quốc gia, 79 thư viện cấp tỉnh, 92 thư viện cấp huyện), phân bổ tại 22 tỉnh/thành đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam.

4. Luận án định nghĩa biên mục bao gồm những nội dung chính nào?

Tiếp cận theo xu hướng hiện đại, luận án xác định biên mục gồm 3 nội dung chính: (1) Biên mục mô tả (ghi nhận các đặc trưng hình thức theo quy tắc chuẩn); (2) Biên mục chủ đề (xác định nội dung qua từ khóa, tiêu đề chủ đề, chỉ số phân loại); (3) Kiểm soát tính nhất quán (chuẩn hóa các điểm truy cập tên tác giả, nhan đề, chủ đề thông qua hồ sơ tiêu đề chuẩn authority files để đảm bảo tính thống nhất và duy nhất).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Biên mục tập trung trong Hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam" của tác giả Đinh Thúy Quỳnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương thức tổ chức và xử lý dữ liệu thư mục dùng chung trong mạng lưới thư viện công cộng. Dựa trên việc phân tích cơ sở lý thuyết hệ thống và khảo sát thực chứng tại 110 thư viện từ cấp trung ương đến cấp huyện, luận án đã chỉ rõ các nút thắt trong việc chuẩn hóa nghiệp vụ, mô hình tổ chức và hạ tầng kỹ thuật. Công trình đề xuất mô hình biên mục tập trung - hợp tác cùng 5 nhóm giải pháp đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ mục tiêu liên thông, chia sẻ tài nguyên thông tin theo Chương trình chuyển đổi số ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.