Luận án tiến sĩ người chưa thành niên vi phạm pháp luật tiếp cận cấu trúc xã hội nghiên cứu trường hợp trường giáo dưỡng số 02 bộ công an

Luận án tiến sĩ luật học phân tích người chưa thành niên vi phạm pháp luật tiếp cận cấu trúc xã hội nghiên cứu trường hợp trường giáo, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ xã hội học

2018

199
3
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Hướng tiếp cận lý thuyết

1.2. Tiếp cận từ khía cạnh y- sinh học

1.3. Tiếp cận từ khía cạnh xã hội

1.4. Hướng nghiên cứu thực nghiệm

1.5. Cấu trúc theo độ tuổi của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.6. Cấu trúc về trình độ học vấn của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.7. Cấu trúc về khu vực cư trú của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.8. Cấu trúc về đặc điểm tâm sinh lý, thói quen của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.9. Cấu trúc về gia đình người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.10. Cấu trúc về loại hình tội phạm của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.11. Biện pháp ngăn ngừa tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên

1.12. Một số khía cạnh khác trong nghiên cứu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.13. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm công cụ

2.2. Người chưa thành niên vi phạm pháp luật

2.3. Trường Giáo dưỡng

2.4. Cấu trúc xã hội

2.5. Tiếp cận cấu trúc xã hội

2.6. Một số lý thuyết xã hội học được sử dụng trong nghiên cứu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật

2.7. Lý thuyết cấu trúc - chức năng

2.8. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề tội phạm và người chưa thành niên vi phạm pháp luật

2.9. Vài nét về người chưa thành niên vi phạm pháp luật và đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.10. Vài nét về người chưa thành niên vi phạm pháp luật

2.11. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.12. Phương pháp nghiên cứu

2.13. Phương pháp phân tích tài liệu

2.14. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.15. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

2.16. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT

3.1. Cấu trúc nhân khẩu- xã hội của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.2. Trình độ học vấn

3.3. Địa bàn cư trú và thành phần dân tộc

3.4. Cấu trúc về loại hình, mức độ vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

3.5. Hành vi vi phạm pháp luật (tội danh)

3.6. Số hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện đồng thời

3.7. Mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm pháp luật

3.8. Yếu tố đồng phạm

3.9. Mức độ chấp hành xử lý vi phạm

3.10. Đặc điểm gia đình người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.11. Điều kiện kinh tế của gia đình. Sự thiếu hoàn thiện/ đầy đủ của gia đình

3.12. Không khí gia đình

3.13. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT: NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

4.1. Nguyên nhân vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

4.2. Nguyên nhân từ bản thân người chưa thành niên vi phạm pháp luật

4.3. Nguyên nhân từ môi trường gia đình

4.4. Nguyên nhân từ sự thiếu hụt trong giáo dục của nhà trường

4.5. Nguyên nhân đến từ các môi trường xã hội khác

4.6. Dự báo tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên trong thời gian tới

4.7. Giải pháp phòng ngừa tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật

4.8. Nhóm giải pháp liên quan đến gia đình người chưa thành niên

4.9. Nhóm giải pháp về công tác giáo dục của nhà trường phổ thông

4.10. Nhóm giải pháp về làm trong sạch môi trường xã hội

4.11. Nhóm giải pháp liên quan đến công tác của lực lượng công an nhân dân

4.12. Nhóm giải pháp về đề xuất chính sách

4.13. Nhóm giải pháp về giáo dục kỹ năng tự kiểm soát, thay đổi kiểu hành vi của người chưa thành niên

4.14. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về người chưa thành niên vi phạm pháp luật và cấu trúc xã hội

Người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTN VPPL) là nhóm đối tượng có độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi thực hiện các hành vi trái pháp luật, bao gồm cả vi phạm hành chính và tội phạm hình sự. Tình trạng NCTN VPPL đang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng, đặc biệt tại các khu vực đô thị. Cấu trúc xã hội của NCTN VPPL bao gồm các yếu tố nhân khẩu học như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình và khu vực cư trú. Việc nghiên cứu cấu trúc xã hội giúp hiểu rõ nguyên nhân và đặc điểm hành vi vi phạm pháp luật của nhóm này, từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Nghiên cứu tại Trường Giáo dưỡng số 02 - Bộ Công an cho thấy đa số NCTN VPPL có hoàn cảnh gia đình phức tạp, trình độ học vấn thấp và thường thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật đồng thời, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội và tương lai của chính các em.

1.1. Đặc điểm nhân khẩu và hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

NCTN VPPL chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 14 đến dưới 18, với tỷ lệ nam giới chiếm đa số. Trình độ học vấn của nhóm này thường ở mức thấp hoặc bỏ học giữa chừng. Hành vi vi phạm phổ biến gồm trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích và các tội phạm nghiêm trọng như hiếp dâm, cướp giật. Nhiều em thực hiện đồng thời nhiều hành vi vi phạm, thể hiện tính chất phức tạp và nghiêm trọng của tội phạm vị thành niên hiện nay.

1.2. Vai trò của cấu trúc xã hội trong việc phân tích hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Cấu trúc xã hội bao gồm các yếu tố như gia đình, nhà trường, bạn bè và môi trường xã hội xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của NCTN. Sự thiếu hụt trong cấu trúc gia đình, môi trường giáo dục không lành mạnh, cùng với tác động tiêu cực từ bạn bè và truyền thông đại chúng là những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của NCTN. Việc phân tích cấu trúc xã hội giúp nhận diện các yếu tố rủi ro và đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp.

II. Phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Nguyên nhân dẫn đến NCTN VPPL rất đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan thường liên quan đến nhận thức pháp luật hạn chế, thói quen xấu và tâm lý vị thành niên chưa ổn định. Nguyên nhân khách quan xuất phát từ môi trường gia đình không ổn định, phương pháp giáo dục chưa phù hợp, sự thiếu quan tâm của nhà trường và ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường xã hội và truyền thông. Nghiên cứu thực tế tại Trường Giáo dưỡng số 02 cho thấy gia đình có vai trò quyết định trong việc hình thành hành vi của NCTN, đặc biệt là các gia đình có cha mẹ ly hôn, nghiện ngập hoặc phạm pháp.

2.1. Nguyên nhân từ bản thân và nhận thức pháp luật của người chưa thành niên

NCTN thường có nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa hiểu rõ hậu quả của hành vi vi phạm. Thói quen xấu như bỏ học, chơi game online quá mức, sử dụng chất kích thích cũng góp phần làm tăng nguy cơ vi phạm pháp luật. Tâm lý vị thành niên dễ bị kích động, thiếu kiềm chế và có xu hướng bắt chước hành vi xấu từ bạn bè hoặc môi trường xung quanh.

2.2. Tác động của môi trường gia đình và nhà trường đến hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Gia đình có vai trò quan trọng trong việc giáo dục và kiểm soát hành vi của NCTN. Các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn, thiếu sự quan tâm hoặc có hành vi sai lệch xã hội thường dẫn đến việc NCTN dễ sa ngã. Nhà trường nếu không phối hợp chặt chẽ với gia đình và không có biện pháp giáo dục phù hợp cũng góp phần làm gia tăng hành vi vi phạm pháp luật của học sinh.

2.3. Ảnh hưởng của môi trường xã hội và truyền thông đại chúng đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Môi trường xã hội không lành mạnh, sự lôi kéo của bạn bè xấu, các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, mại dâm là những yếu tố thúc đẩy NCTN phạm pháp. Truyền thông đại chúng nếu không được kiểm soát có thể lan truyền các nội dung độc hại, đồi trụy, kích động hành vi lệch chuẩn, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của NCTN.

III. Phương pháp và giải pháp phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật hiệu quả

Phòng ngừa NCTN VPPL đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường, xã hội và các cơ quan chức năng. Các giải pháp tập trung vào nâng cao nhận thức pháp luật, cải thiện môi trường giáo dục, tăng cường quản lý và hỗ trợ tâm lý cho NCTN. Đồng thời, cần xây dựng chính sách pháp luật phù hợp, phát triển các mô hình can thiệp sớm và các chương trình giáo dục kỹ năng sống cho NCTN. Nghiên cứu tại Trường Giáo dưỡng số 02 đã đề xuất nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật trong nhóm đối tượng này.

3.1. Giải pháp từ gia đình và nhà trường trong phòng chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Gia đình cần tăng cường vai trò giáo dục, tạo môi trường sống lành mạnh, quan tâm, chăm sóc và làm gương cho con cái. Nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc giáo dục pháp luật, phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, rèn luyện nhân cách cho học sinh.

3.2. Giải pháp từ xã hội và cơ quan chức năng trong ngăn ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Xã hội cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, kiểm soát các tệ nạn xã hội và truyền thông độc hại. Lực lượng công an nhân dân cần tăng cường công tác quản lý, giáo dục, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của NCTN, đồng thời phối hợp với các tổ chức xã hội trong công tác phòng ngừa.

3.3. Chính sách pháp luật và mô hình can thiệp hiệu quả cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý NCTN VPPL, đảm bảo tính giáo dục và nhân đạo. Phát triển các mô hình can thiệp sớm, như trường giáo dưỡng, các trung tâm tư vấn, hỗ trợ tâm lý và pháp lý cho NCTN. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục, quản lý NCTN VPPL.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Trường Giáo dưỡng số 02

Nghiên cứu thực nghiệm tại Trường Giáo dưỡng số 02 - Bộ Công an đã cung cấp dữ liệu thực tế về cấu trúc xã hội, nguyên nhân và hành vi vi phạm pháp luật của NCTN. Kết quả cho thấy đa số NCTN VPPL có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp, thường thực hiện nhiều hành vi vi phạm đồng thời và có xu hướng tái phạm cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình, nhà trường và môi trường xã hội trong việc hình thành hành vi vi phạm. Các giải pháp đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu đã được áp dụng thử nghiệm và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực trong công tác giáo dục, cải tạo NCTN VPPL.

4.1. Đặc điểm cấu trúc xã hội và hành vi vi phạm pháp luật của học sinh tại Trường Giáo dưỡng số 02

Học sinh tại Trường Giáo dưỡng số 02 chủ yếu là nam, độ tuổi từ 14 đến dưới 18, phần lớn có trình độ học vấn THCS trở xuống. Hành vi vi phạm phổ biến gồm trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích. Nhiều em có hoàn cảnh gia đình phức tạp như cha mẹ ly hôn, nghiện ngập hoặc phạm pháp, điều kiện kinh tế khó khăn.

4.2. Kết quả khảo sát nguyên nhân và tác động của môi trường xã hội đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Khảo sát cho thấy nguyên nhân vi phạm pháp luật của NCTN chủ yếu do thiếu hiểu biết pháp luật, ảnh hưởng tiêu cực từ bạn bè xấu, môi trường gia đình không ổn định và sự thiếu hụt trong giáo dục nhà trường. Môi trường xã hội và truyền thông đại chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi lệch chuẩn.

4.3. Hiệu quả các biện pháp giáo dục và cải tạo tại Trường Giáo dưỡng số 02

Các biện pháp giáo dục, lao động và rèn luyện tại Trường Giáo dưỡng số 02 đã giúp nhiều học sinh nhận thức được sai lầm, thay đổi hành vi và có kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng. Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan chức năng được tăng cường nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tái phạm.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu người chưa thành niên vi phạm pháp luật và cấu trúc xã hội

NCTN VPPL là hiện tượng phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cấu trúc xã hội như gia đình, nhà trường, môi trường xã hội và cá nhân. Việc nghiên cứu sâu sắc cấu trúc xã hội của NCTN VPPL giúp nhận diện nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Trong tương lai, cần mở rộng phạm vi nghiên cứu, áp dụng các mô hình can thiệp đa ngành và tăng cường chính sách pháp luật phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật trong nhóm đối tượng này, góp phần xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh.

5.1. Tổng kết các phát hiện chính về người chưa thành niên vi phạm pháp luật và cấu trúc xã hội

NCTN VPPL thường xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố như hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp, ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường xã hội và nhận thức pháp luật hạn chế. Cấu trúc xã hội của nhóm này có vai trò quyết định trong việc hình thành hành vi vi phạm pháp luật.

5.2. Triển vọng nghiên cứu và chính sách trong phòng ngừa vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Cần tiếp tục nghiên cứu đa chiều, kết hợp giữa xã hội học, tâm lý học và pháp luật để hiểu rõ hơn về NCTN VPPL. Chính sách cần hướng tới giáo dục, hỗ trợ tâm lý và phát triển kỹ năng sống cho NCTN, đồng thời tăng cường vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng trong phòng ngừa vi phạm pháp luật.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Ở chương này, luận án tập trung vào việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm có liên quan đến mảng đề tài về NCTN VPPL của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận án đã thao tác hóa các khái niệm công cụ phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

Đồng thời, phân tích một số lý thuyết xã hội học được sử dụng trong phân tích về NCTN VPPL cũng như quan điểm của Đảng, nhà nước Việt Nam về vấn đề tội phạm. Những nét khái quát về NCTN VPPL ở nước ta và đặc điểm địa bàn nghiên cứu cũng được đề cập. - Chương 3: Cấu trúc xã hội của NCTN VPPL. Luận án tập trung mô tả về cấu trúc xã hội của NCTN VPPL theo các nội dung: cấu trúc nhân khẩu- xã hội, cấu trúc về loại hình tội phạm, tính chất, mức độ vi phạm, yếu tố đồng phạm và mức độ tái phạm của NCTN VPPL và cấu trúc gia đình của NCTN VPPL.

- Chương 4: Nguyên nhân VPPL của NCTN và các giải pháp phòng ngừa. Trong chương này, luận án lý giải nguyên nhân VPPL của NCTN theo nhiều chiều cạnh: tác động của môi trường gia đình, nhà trường, môi trường xã hội, truyền thông đại chúng, từ hiểu biết về pháp luật và từ những thói quen xấu của NCTN VPPL. Luận án cũng đưa ra dự báo về vấn đề VPPL của NCTN trong thời gian tới đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng VPPL ở NCTN. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hơn 2.300 năm trước, nhà hiền triết Socrates đã mô tả về những người trẻ hư hỏng như sau: “Trẻ em bây giờ yêu thích sự xa hoa.

Chúng có thái độ không tốt, coi thường nhà chức trách. Chúng thể hiện sự không tôn trọng đối với những người già. Chúng cãi lại cha mẹ, nói leo trước khách khứa và vô lễ với thầy cô giáo” [84, tr. Nói như vậy để thấy rằng, ngay từ thời xa xưa, những hành vi sai lệch xã hội cũng đã xuất hiện và đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý xã hội.

Ngày nay, trước sự gia tăng của các hiện tượng sai lệch xã hội và tội phạm, nhất là tội phạm ở những người đang ở độ tuổi rất trẻ- độ tuổi chưa thành niên- đã và đang đặt ra rất nhiều yêu cầu cần được quan tâm và lý giải một cách thỏa đáng, cả trên phương diện thực tiễn lẫn trên phương diện lý luận. Nói như vậy để thấy, trong suốt chiều dài của lịch sử loài người, các hiện tượng sai lệch xã hội, đặc biệt là các hành vi tội phạm và tệ nạn xã hội trong xã hội nói chung, ở những người trẻ nói riêng, luôn xuất hiện trong đời sống xã hội, tạo ra những mối lo âu, trăn trở cho các nhà khoa học, các nhà quản lý, các bậc phụ huynh. Trong khoa học xã hội, nghiên cứu nhằm khắc phục các hiện tượng sai lệch xã hội, tội phạm và tệ nạn xã hội luôn được coi là mảng đề tài hấp dẫn, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong đó, nội dung nghiên cứu về NCTN VPPL nhận được sự chú ý của rất nhiều các nhà nghiên cứu Xã hội học, Tội phạm học, Tâm lý học, Luật học, Nhân chủng học trong và ngoài nước.

Dưới đây xin kể đến những công trình nghiên cứu căn bản, nổi bật về vấn đề này sắp xếp theo các hướng tiếp cận của các tác giả theo trình tự thời gian. Hƣớng tiếp cận lý thuyết Có thể khẳng định rằng khuynh hướng tiếp cận lý thuyết về vấn đề lệch chuẩn xã hội và tội phạm thường đến từ các học giả nước ngoài, gắn với việc đặt nền móng lý thuyết ban đầu cho việc tìm hiểu, giải thích về hiện tượng VPPL ở NCTN. Nhìn chung, họ chia thành 2 khuynh hướng: 1- khuynh hướng tiếp cận vấn đề từ khía cạnh y- sinh học; 2- khuynh hướng tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội. Ở 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả hai khuynh hướng đều có những mặt mạnh, yếu khác nhau.

Song nó đều phản ánh những nỗ lực của các nhà nghiên cứu về vấn đề luôn nổi bật trong đời sống xã hội- đó là các hành vi sai lệch và tội phạm, đặc biệt là các lệch chuẩn ở lứa tuổi chưa thành niên. Tiếp cận từ khía cạnh y- sinh học Tác giả Cesare Beccaria (1738-1794) được xem là ông tổ của ngành tội phạm học. Trong tác phẩm "Tội phạm và trừng phạt" ông cho rằng "nguyên nhân của tội phạm là tự do ý chí, sự lựa chọn của từng cá nhân, và cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm là luật phải được quy định đơn giản và rõ ràng" [53, tr. Tư tưởng này của ông, cho đến nay, vẫn là cơ sở để nhiều quốc gia tuân thủ nhằm xây dựng hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ.

Tiếp bước theo những quan điểm của Cesare Beccaria, tác giả người Anh Jeremy Bentham (1748-1832) trong tác phẩm "Lời giới thiệu tới các nguyên tắc của đạo đức và luật pháp" (xuất bản năm 1798) đã đưa ra thuyết vị lợi: người ta đều suy nghĩ, cân nhắc trước khi quyết định thực hiện hành vi của mình. Họ suy nghĩ xem có lợi hay không có lợi trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội. Tất cả hành động của con người đều được tính toán phù hợp với khả năng có thể đem lại lợi ích hoặc sự bất hạnh. Quan điểm này kế thừa ý tưởng của Cesare Beccaria ở chỗ cho rằng nguyên nhân chính của tội phạm thực chất vẫn là sự tự do lựa chọn của từng cá nhân [54, tr.

Vào những năm 1870, Cesare Lombroso (1835-1909) đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về tội phạm dưới giác độ nhân chủng học. Là người đặt nền móng cho lý thuyết “sai lệch sinh học”, trong tác phẩm "Người phạm tội“ được viết năm 1876, Cesare Lombroso nghiên cứu và đưa ra những luận điểm phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của con người là có liên quan tới cấu trúc cơ thể (yếu tố sinh học của con người). Ông đã áp dụng nhiều phương pháp hiện đại như đo hộp sọ, kết hợp với thống kê các mẫu tội phạm được chọn lựa theo phương pháp xã hội học để nghiên cứu nguyên nhân phạm tội. Cesare Lombroso chỉ rõ: Tội phạm là dạng thấp của hành vi và người phạm tội gần giống với tổ tiên loài người hơn là những người khác (hiện tượng lại giống- atavism) [53, tr.

9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo lý thuyết này, do những khiếm khuyết về sinh học nên các cá nhân có thể sẽ tư duy và hành động theo cách nguyên thủy và do vậy mà dễ dẫn đến phạm tội, hay nói cách khác, có những người sinh ra đã là tội phạm tiềm năng. Lombroso cũng cho rằng việc phạm tội cũng là một dạng lệch lạc, lệch chuẩn trong xã hội. Bản chất con người khi sinh ra đều có những yếu tố bẩm sinh phạm tội, tuy nhiên bên cạnh những tác động của xã hội thì những người thuộc kiểu người như trên sẽ có khả năng gây ra tội lỗi nhiều nhất. Bản thân kẻ phạm tội khi gây ra tội ác thì phần “con” đã lấn át đi phần “người”, lý chí trong họ hầu như không còn, sẵn sàng gây ra tội ác mà không biết đến hậu quả.

Kế thừa quan điểm của Lombroso, người học trò của ông- Enrico Ferri (1856-1929) bổ sung thêm luận điểm cho rằng bên cạnh những nhân tố sinh học ảnh hưởng tới tội phạm như những minh chứng của Lombroso, song mặt khác, các nhân tố xã hội, kinh tế cũng có vai trò quyết định đối với việc thực hiện tội phạm. Từ đó, ông đề xuất các giải pháp phòng ngừa tội phạm hơn là trừng phạt tội phạm: “đó là cải thiện điều kiện sống của người dân, tăng cường quản lý nhà nước đối với vũ khí, tăng cường ánh sáng đường phố,. Một học trò xuất sắc khác của Lombroso là Raffaele Garofalo (1852-1934) đã đưa ra thuyết “tội phạm bẩm sinh” (hay tội phạm tự nhiên). Ông cho rằng bên cạnh các yếu tố sinh học ảnh hưởng tới tội phạm còn cần nhắc đến yếu tố tâm lý bẩm sinh cũng có tác động không nhỏ đến sự gia tăng tội phạm [54, tr.

William Sheldon, nhà nhân chủng học người Mỹ đã cố gắng tìm hiểu về mối quan hệ giữa hành vi của con người với hình dáng sinh học của cơ thể. Ông đã khái quát thành 3 kiểu cơ thể cơ bản: 1- Kiểu Endomorph (tròn, béo, mềm); 1- kiểu Mesomorph (lực lưỡng); 3- kiểu Ectomorph (gầy, yếu ớt). Theo Sheldon kiểu 2- Mesomorph gần với tội phạm nhất (dễ bị kích động, nóng nảy, dễ căng thẳng thần kinh); kiểu 1-Endomorph dễ khoan dung, dễ bằng lòng, thân thiện còn kiểu 3- Ectomorph lại quá nhạy cảm, dễ nhụt trí nản lòng [101, tr. Một cách lý giải khác về hành vi tội phạm đó là dựa vào cấu tạo gen của cơ thể.

Tác giả Louis Dugdale (1841-1883) qua nghiên cứu về một số dòng họ “phạm tội” (tức có nhiều người tham gia vào các loại hình tội phạm và tệ nạn xã hội ở dòng họ này) và một số dòng họ “trong sạch” (tức dòng họ không có người phạm tội và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có hành vi lệch chuẩn, ngược lại, có rất nhiều người thành công, có cống hiến lớn cho xã hội) đã kết luận trong thuyết phạm tội thừa kế: một số dòng họ đã sản sinh ra những thế hệ tội phạm, họ chắc chắn đã di truyền một đặc điểm thoái hóa nào đó từ đời này sang đời khác [113, tr. Lý thuyết nhiễm sắc thể của tác giả người Anh Patricia Jacobs cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do người phạm tội đã có kiểm nhiễm sắc thể bất thường so với những người bình thường khác, theo đó, những người đàn ông có nhiễm sắc thể XYY (bình thường là XY), và những người phụ nữ có nhiễm sắc thể XXX (bình thường là XX) có khuynh hướng có hành động phạm tội, hay bị rối loạn tâm lý và hung hãn, quá khích hơn so với những người nam giới có nhiễm sắc thể XY và những người nữ giới có nhiễm sắc thể XX [113, tr. Tiếp cận từ khía cạnh xã hội Khác với xu hướng tiếp từ khía cạnh y- sinh học đề cao vấn đề hình thể, cấu tạo xương, nhiễm sắc thể, cấu trúc gene,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ