Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Ở chương này, luận án tập trung vào việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm có liên quan đến mảng đề tài về NCTN VPPL của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận án đã thao tác hóa các khái niệm công cụ phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Đồng thời, phân tích một số lý thuyết xã hội học được sử dụng trong phân tích về NCTN VPPL cũng như quan điểm của Đảng, nhà nước Việt Nam về vấn đề tội phạm. Những nét khái quát về NCTN VPPL ở nước ta và đặc điểm địa bàn nghiên cứu cũng được đề cập. - Chương 3: Cấu trúc xã hội của NCTN VPPL. Luận án tập trung mô tả về cấu trúc xã hội của NCTN VPPL theo các nội dung: cấu trúc nhân khẩu- xã hội, cấu trúc về loại hình tội phạm, tính chất, mức độ vi phạm, yếu tố đồng phạm và mức độ tái phạm của NCTN VPPL và cấu trúc gia đình của NCTN VPPL.
- Chương 4: Nguyên nhân VPPL của NCTN và các giải pháp phòng ngừa. Trong chương này, luận án lý giải nguyên nhân VPPL của NCTN theo nhiều chiều cạnh: tác động của môi trường gia đình, nhà trường, môi trường xã hội, truyền thông đại chúng, từ hiểu biết về pháp luật và từ những thói quen xấu của NCTN VPPL. Luận án cũng đưa ra dự báo về vấn đề VPPL của NCTN trong thời gian tới đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng VPPL ở NCTN. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hơn 2.300 năm trước, nhà hiền triết Socrates đã mô tả về những người trẻ hư hỏng như sau: “Trẻ em bây giờ yêu thích sự xa hoa.
Chúng có thái độ không tốt, coi thường nhà chức trách. Chúng thể hiện sự không tôn trọng đối với những người già. Chúng cãi lại cha mẹ, nói leo trước khách khứa và vô lễ với thầy cô giáo” [84, tr. Nói như vậy để thấy rằng, ngay từ thời xa xưa, những hành vi sai lệch xã hội cũng đã xuất hiện và đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý xã hội.
Ngày nay, trước sự gia tăng của các hiện tượng sai lệch xã hội và tội phạm, nhất là tội phạm ở những người đang ở độ tuổi rất trẻ- độ tuổi chưa thành niên- đã và đang đặt ra rất nhiều yêu cầu cần được quan tâm và lý giải một cách thỏa đáng, cả trên phương diện thực tiễn lẫn trên phương diện lý luận. Nói như vậy để thấy, trong suốt chiều dài của lịch sử loài người, các hiện tượng sai lệch xã hội, đặc biệt là các hành vi tội phạm và tệ nạn xã hội trong xã hội nói chung, ở những người trẻ nói riêng, luôn xuất hiện trong đời sống xã hội, tạo ra những mối lo âu, trăn trở cho các nhà khoa học, các nhà quản lý, các bậc phụ huynh. Trong khoa học xã hội, nghiên cứu nhằm khắc phục các hiện tượng sai lệch xã hội, tội phạm và tệ nạn xã hội luôn được coi là mảng đề tài hấp dẫn, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong đó, nội dung nghiên cứu về NCTN VPPL nhận được sự chú ý của rất nhiều các nhà nghiên cứu Xã hội học, Tội phạm học, Tâm lý học, Luật học, Nhân chủng học trong và ngoài nước.
Dưới đây xin kể đến những công trình nghiên cứu căn bản, nổi bật về vấn đề này sắp xếp theo các hướng tiếp cận của các tác giả theo trình tự thời gian. Hƣớng tiếp cận lý thuyết Có thể khẳng định rằng khuynh hướng tiếp cận lý thuyết về vấn đề lệch chuẩn xã hội và tội phạm thường đến từ các học giả nước ngoài, gắn với việc đặt nền móng lý thuyết ban đầu cho việc tìm hiểu, giải thích về hiện tượng VPPL ở NCTN. Nhìn chung, họ chia thành 2 khuynh hướng: 1- khuynh hướng tiếp cận vấn đề từ khía cạnh y- sinh học; 2- khuynh hướng tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội. Ở 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả hai khuynh hướng đều có những mặt mạnh, yếu khác nhau.
Song nó đều phản ánh những nỗ lực của các nhà nghiên cứu về vấn đề luôn nổi bật trong đời sống xã hội- đó là các hành vi sai lệch và tội phạm, đặc biệt là các lệch chuẩn ở lứa tuổi chưa thành niên. Tiếp cận từ khía cạnh y- sinh học Tác giả Cesare Beccaria (1738-1794) được xem là ông tổ của ngành tội phạm học. Trong tác phẩm "Tội phạm và trừng phạt" ông cho rằng "nguyên nhân của tội phạm là tự do ý chí, sự lựa chọn của từng cá nhân, và cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm là luật phải được quy định đơn giản và rõ ràng" [53, tr. Tư tưởng này của ông, cho đến nay, vẫn là cơ sở để nhiều quốc gia tuân thủ nhằm xây dựng hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ.
Tiếp bước theo những quan điểm của Cesare Beccaria, tác giả người Anh Jeremy Bentham (1748-1832) trong tác phẩm "Lời giới thiệu tới các nguyên tắc của đạo đức và luật pháp" (xuất bản năm 1798) đã đưa ra thuyết vị lợi: người ta đều suy nghĩ, cân nhắc trước khi quyết định thực hiện hành vi của mình. Họ suy nghĩ xem có lợi hay không có lợi trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội. Tất cả hành động của con người đều được tính toán phù hợp với khả năng có thể đem lại lợi ích hoặc sự bất hạnh. Quan điểm này kế thừa ý tưởng của Cesare Beccaria ở chỗ cho rằng nguyên nhân chính của tội phạm thực chất vẫn là sự tự do lựa chọn của từng cá nhân [54, tr.
Vào những năm 1870, Cesare Lombroso (1835-1909) đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về tội phạm dưới giác độ nhân chủng học. Là người đặt nền móng cho lý thuyết “sai lệch sinh học”, trong tác phẩm "Người phạm tội“ được viết năm 1876, Cesare Lombroso nghiên cứu và đưa ra những luận điểm phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của con người là có liên quan tới cấu trúc cơ thể (yếu tố sinh học của con người). Ông đã áp dụng nhiều phương pháp hiện đại như đo hộp sọ, kết hợp với thống kê các mẫu tội phạm được chọn lựa theo phương pháp xã hội học để nghiên cứu nguyên nhân phạm tội. Cesare Lombroso chỉ rõ: Tội phạm là dạng thấp của hành vi và người phạm tội gần giống với tổ tiên loài người hơn là những người khác (hiện tượng lại giống- atavism) [53, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo lý thuyết này, do những khiếm khuyết về sinh học nên các cá nhân có thể sẽ tư duy và hành động theo cách nguyên thủy và do vậy mà dễ dẫn đến phạm tội, hay nói cách khác, có những người sinh ra đã là tội phạm tiềm năng. Lombroso cũng cho rằng việc phạm tội cũng là một dạng lệch lạc, lệch chuẩn trong xã hội. Bản chất con người khi sinh ra đều có những yếu tố bẩm sinh phạm tội, tuy nhiên bên cạnh những tác động của xã hội thì những người thuộc kiểu người như trên sẽ có khả năng gây ra tội lỗi nhiều nhất. Bản thân kẻ phạm tội khi gây ra tội ác thì phần “con” đã lấn át đi phần “người”, lý chí trong họ hầu như không còn, sẵn sàng gây ra tội ác mà không biết đến hậu quả.
Kế thừa quan điểm của Lombroso, người học trò của ông- Enrico Ferri (1856-1929) bổ sung thêm luận điểm cho rằng bên cạnh những nhân tố sinh học ảnh hưởng tới tội phạm như những minh chứng của Lombroso, song mặt khác, các nhân tố xã hội, kinh tế cũng có vai trò quyết định đối với việc thực hiện tội phạm. Từ đó, ông đề xuất các giải pháp phòng ngừa tội phạm hơn là trừng phạt tội phạm: “đó là cải thiện điều kiện sống của người dân, tăng cường quản lý nhà nước đối với vũ khí, tăng cường ánh sáng đường phố,. Một học trò xuất sắc khác của Lombroso là Raffaele Garofalo (1852-1934) đã đưa ra thuyết “tội phạm bẩm sinh” (hay tội phạm tự nhiên). Ông cho rằng bên cạnh các yếu tố sinh học ảnh hưởng tới tội phạm còn cần nhắc đến yếu tố tâm lý bẩm sinh cũng có tác động không nhỏ đến sự gia tăng tội phạm [54, tr.
William Sheldon, nhà nhân chủng học người Mỹ đã cố gắng tìm hiểu về mối quan hệ giữa hành vi của con người với hình dáng sinh học của cơ thể. Ông đã khái quát thành 3 kiểu cơ thể cơ bản: 1- Kiểu Endomorph (tròn, béo, mềm); 1- kiểu Mesomorph (lực lưỡng); 3- kiểu Ectomorph (gầy, yếu ớt). Theo Sheldon kiểu 2- Mesomorph gần với tội phạm nhất (dễ bị kích động, nóng nảy, dễ căng thẳng thần kinh); kiểu 1-Endomorph dễ khoan dung, dễ bằng lòng, thân thiện còn kiểu 3- Ectomorph lại quá nhạy cảm, dễ nhụt trí nản lòng [101, tr. Một cách lý giải khác về hành vi tội phạm đó là dựa vào cấu tạo gen của cơ thể.
Tác giả Louis Dugdale (1841-1883) qua nghiên cứu về một số dòng họ “phạm tội” (tức có nhiều người tham gia vào các loại hình tội phạm và tệ nạn xã hội ở dòng họ này) và một số dòng họ “trong sạch” (tức dòng họ không có người phạm tội và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có hành vi lệch chuẩn, ngược lại, có rất nhiều người thành công, có cống hiến lớn cho xã hội) đã kết luận trong thuyết phạm tội thừa kế: một số dòng họ đã sản sinh ra những thế hệ tội phạm, họ chắc chắn đã di truyền một đặc điểm thoái hóa nào đó từ đời này sang đời khác [113, tr. Lý thuyết nhiễm sắc thể của tác giả người Anh Patricia Jacobs cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do người phạm tội đã có kiểm nhiễm sắc thể bất thường so với những người bình thường khác, theo đó, những người đàn ông có nhiễm sắc thể XYY (bình thường là XY), và những người phụ nữ có nhiễm sắc thể XXX (bình thường là XX) có khuynh hướng có hành động phạm tội, hay bị rối loạn tâm lý và hung hãn, quá khích hơn so với những người nam giới có nhiễm sắc thể XY và những người nữ giới có nhiễm sắc thể XX [113, tr. Tiếp cận từ khía cạnh xã hội Khác với xu hướng tiếp từ khía cạnh y- sinh học đề cao vấn đề hình thể, cấu tạo xương, nhiễm sắc thể, cấu trúc gene,.