CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN RIÊNG TƯ CỦA TRẺ EM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG 1.1 Khái quát về quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng 1.1 Khái quát về lịch sử quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng Quyền riêng tư có đã có nguồn gốc từ thời cổ đại. Sự công nhận quyền riêng tư xuất hiện nhiều trong Kinh Qur'an và trong những câu nói của Ngài Mohammed. Kinh Thánh cũng có nhiều tài liệu tham khảo về quyền riêng tư.
Luật Do Thái từ lâu đã công nhận khái niệm “không bị theo dõi”. Ngoài ra, trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền riêng tư1. Bộ luật Hammurabi có quy định chống lại sự xâm nhập vào nhà của ai đó2, hoặc luật La Mã cũng quy định hình phạt người xâm nhập vào nhà của người khác3. Trong xã hội nguyên thủy, con người sống với nhau thành bầy đàn, tính gắn kết cao, con người trong xã hội này không có đòi hỏi về quyền riêng tư cho bản thân.
Trong một xã hội mang tính bất bình đẳng cao giữa các giai cấp như xã hội chiếm hữu nô lệ thì các quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng là quyền mà chỉ tầng lớp chủ nô mới có; còn giai cấp nô lệ chỉ được xem là một thứ “tài sản biết nói” của chủ nô. Do đó, quyền riêng tư trong giai đoạn này và cả dưới chế độ phong kiến không được chính thức ghi nhận bởi pháp luật, nó được coi là một “đặc quyền” mà chỉ có các tầng lớp cao quý trong xã hội (chủ nô, lãnh chúa phong kiến,…) mới được hưởng4. Mặc dù quyền riêng tư bắt đầu manh nha xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, khái niệm cũng như tính pháp lý của quyền này chỉ thực sự được khẳng định cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Do đó, có thể nói, quyền riêng tư có nguồn gốc từ phương Tây và phát triển nhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Luật về quyền riêng tư đã tồn tại ở các quốc gia phương Tây từ hàng trăm năm trước. Năm 1361, Đạo luật Công lý về Hòa bình ở Anh quy định về việc bắt giữ những kẻ nhìn trộm và những kẻ nghe lén. Trong bài phát biểu năm 1763, Nghị sĩ William Pitt đã cho rằng: “Phải làm sao để những người nghèo nhất có thể thách thức để buộc tất cả các quan chức phải tôn trọng họ; mặc dù căn nhà của họ có thể là xập xệ, mái của nó có thể lắc, gió có thể thổi, các cơn bão có thể vào, mưa có thể xâm nhập nhưng ngay 1 Privacy and Human Rights Report (2006), http://www.org/int/journals/EPICPrivHR/2006/, truy cập ngày 15/4/2023.
2 Điều 21 Bộ Luật Hammurabi quy định: “Nếu dân tự do xâm phạm chỗ ở của người khác thì bị xử tử và chôn ngay ở chỗ đã xâm phạm”. 3 Trong Luật La Mã: “Các hình phạt khác nhau được áp dụng cho những người đột nhập vào nhà, vì những người đột nhập vào ban đêm là tàn bạo hơn, và do đó họ thường bị đánh đòn và kết án vào các mỏ. Tuy nhiên, những người đột nhập vào ban ngày, đầu tiên bị đánh đòn, và sau đó bị kết án lao động khổ sai suốt đời hoặc trong một thời gian nhất định.” 4 Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia, Nxb. Đại học quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr. 7 cả vua nước Anh cũng không thể tùy tiện vào nhà họ được”. Các quốc gia khác nhau đã phát triển các biện pháp bảo vệ cụ thể cho quyền riêng tư trong nhiều thế kỷ sau đó.
Năm 1776, Quốc hội Thụy Điển ban hành Đạo luật Quyền truy cập vào hồ sơ công khai, yêu cầu tất cả thông tin do Chính phủ nắm giữ cho các mục đích hợp pháp. Bộ luật Hình sự năm 1889 của Na Uy cấm xuất bản thông tin liên quan đến “công việc cá nhân hoặc đối nội”5. Đến thế kỷ thứ XX, vào năm 1890, nghiên cứu của hai luật gia người Mỹ là Louis D. Brandeis và Samuel D.
Warren là “Right to Privacy” được xuất bản trên tạp chí Harvard Law Review. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả lập luận rằng khi chính trị, xã hội và kinh tế thay đổi, luật pháp phải phát triển và tạo ra các quyền mới để “đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Tác giả chỉ ra hai hiện tượng gây ra mối đe dọa đối với quyền riêng tư: phát triển công nghệ (cụ thể là bức ảnh chụp) và tin đồn, đã trở thành như một giao dịch trên báo chí6. Bài viết được xem là một trong những tác phẩm có tầm quan trọng, là nền tảng phát triển của những quy định pháp luật về quyền riêng tư tại Hoa Kỳ nói riêng và của lý thuyết về quyền riêng tư hiện đại nói chung.
Đến nay, quyền riêng tư được xem là một trong những quyền cơ bản của con người. Mặc dù quyền riêng tư có lịch sử hình thành từ rất lâu đời nhưng chỉ mới chính thức được ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR) tại Điều 127. Quyền riêng tư được tái khẳng định là quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người chẳng hạn như: Công ước về bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản (Điều 8), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Điều 17); Công ước về quyền của người lao động nhập cư (Điều 14); Công ước về quyền trẻ em (Điều 16); Công ước về quyền của người khuyết tật (Điều 22),. Ở văn kiện của quốc gia, hầu như mọi quốc gia đều công nhận quyền riêng tư trong Hiến pháp của mình.
Ở nhiều quốc gia nơi quyền riêng tư không được công nhận rõ ràng trong Hiến pháp, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Ireland và Ấn Độ, các tòa án đã xác định quyền đó trong quy định của các đạo luật khác. Ở nhiều quốc gia, các thỏa thuận quốc tế công nhận quyền riêng tư như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị hoặc Công ước châu Âu về quyền con người đã được thông qua thành luật8. Tóm lại, quyền riêng tư có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử và nó sơ khai xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phát triển cho đến 5 Privacy and Human Rights Report 2006, http://www.org/int/journals/EPICPrivHR/2006/, truy cập ngày 27/7/2023. 6 Chu Hồng Thanh, (2020), Nhận thức pháp lý về quyền riêng tư, Tạp chí Luật sư, nguồn: https://lsvn.vn/nhan- thuc-phap-ly-ve-quyen-rieng-tu.html, truy cập ngày 19/2/2023.
7 Lukács, A, (2016), What is privacy? The history and definition of privacy, p. 8 Global Internet liberty campaign, “Privacy and human rights - An International Survey of Privacy Laws and Practice” (2004), http://gilc.org/privacy/survey/intro. Quyền riêng tư cũng được thừa nhận trong các công ước quốc tế và hầu hết trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới. Những năm cuối thế kỉ XX đánh dấu sự phổ cập rộng khắp của mạng Internet.
Thời đại công nghệ số bắt đầu phát triển, những tiến bộ về công nghệ thông tin, thiết bị kết nối với Internet và phân tích dữ liệu diễn ra với tốc độ chóng mặt. Sự phát triển này đã có ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền về sự riêng tư của con người. Những năm 1960 – 1970, sự quan tâm về quyền riêng tư tăng nhanh chóng, cùng thời điểm đó đã có nhiều luật được ban hành bảo vệ dữ liệu trên thế giới như ở Hesse, Đức (1970), sau đó Thụy Điển (1973), Hoa Kỳ (1974), Đức (1977) và Pháp (1978)9 và những tác phẩm nổi tiếng bàn về quyền riêng tư như cuốn sách Riêng tư và tự do (Privacy and freedom) của giáo sư luật học Alan F. Westin, bài tiểu luận Quyền riêng tư (Privacy) của giáo sư Charles Fried công bố năm 1968 trên Yale Law Journal,… Từ đó, các quốc gia, tổ chức liên chính phủ lần lượt cho ra đời luật về bảo vệ quyền riêng tư trên không gian mạng.
Hiện có hơn 80 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản và cả Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo các nước, quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân là quyền riêng tư và được pháp luật bảo vệ.10 Trong quá trình nghiên cứu và xây dựng pháp luật để bảo vệ quyền riêng tư của công dân trên không gian mạng, các quốc gia đều chú ý đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương là “trẻ em”. Trẻ em hiện nay là đối tượng lớn lên trong thời đại bùng nổ công nghệ số, trẻ em có nhiều cơ hội được tiếp cận với Internet hơn, trong khi đó, “nhóm yếu thế” này chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, thể chất để có thể tự bảo vệ mình. Các chủ thể khác có thể sử dụng nền tảng công nghệ vô tình hoặc cố tình để xâm phạm đến quyền riêng tư của trẻ.
Chính vì thế, quyền riêng tư đối với trẻ em trên không gian mạng lại càng cần đặc biệt chú trọng, cần có những quy định đặc thù. Các quốc gia vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu soạn thảo, sửa đổi bổ sung đạo luật về liên quan quyền riêng tư trong thời đại công nghệ số, có xu hướng quy định chế định riêng về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng.2 Khái niệm quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng Khái niệm “trẻ em” ở mỗi quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào những đặc điểm sinh học, tâm lý, trình độ giáo dục, chương trình chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em 1989 (Công ước) là một văn kiện quốc tế làm nền tảng pháp lý cơ bản và quan trọng nhất để bảo đảm quyền của trẻ em trên 9 Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia, Nxb. Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh, TP.
Hồ Chí Minh, tr. 10 Vũ Bình Minh (2022), “Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) của Liên minh châu Âu và giá trị tham khảo cho Việt Nam”, https://vietq.vn/quy-dinh-chung-ve-bao-ve-du-lieu-gdpr-cua-lien-minh-chau-au-va-gia-tri-tham- khao-cho-viet-nam-d204954.html, truy cập ngày 21/02/2023. Theo Điều 1 của Công ước, khái niệm trẻ em được hiểu như sau: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.