Luận văn thạc sĩ: Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp lý hiện nay.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
41
14
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Khái niệm “quyền con người” và “vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người”

1.2. Khái niệm “quyền con người”

1.3. Khái niệm “vai trò pháp luật bảo đảm quyền con người”

1.4. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2.2. Thành tựu đạt được

2.3. Hạn chế và nguyên nhân

2.4. Giải pháp nâng cao vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2.4.1. Hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2.4.2. Tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật về quyền con người

2.4.3. Thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất pháp luật về quyền con người

2.4.4. Bảo vệ có hiệu quả pháp luật hiện hành về quyền con người

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm quyền con người và vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người

Quyền con người là các quyền tự nhiên, bẩm sinh, vốn có của con người, được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người thể hiện qua việc ghi nhận, bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các quyền này. Pháp luật không chỉ là công cụ để Nhà nước thực hiện cam kết bảo vệ quyền con người mà còn là phương tiện để xử lý các hành vi vi phạm.

1.1. Khái niệm quyền con người

Quyền con người được hiểu là những đặc quyền tự nhiên vốn có của con người, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người gắn liền với quyền độc lập dân tộc. Quyền con người không chỉ là giá trị chung của nhân loại mà còn được thể chế hóa thông qua pháp luật hiện hành và các thỏa thuận quốc tế.

1.2. Khái niệm vai trò của pháp luật

Vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người được thể hiện qua việc ghi nhận, bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các quyền này. Pháp luật là công cụ để Nhà nước thực hiện cam kết bảo vệ quyền con người, đồng thời là phương tiện để xử lý các hành vi vi phạm. Pháp luật cũng quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc bảo đảm quyền con người.

II. Vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam hiện nay

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người tại Việt Nam. Thông qua Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Nhà nước ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Pháp luật cũng quy định các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm quyền con người, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.

2.1. Pháp luật ghi nhận quyền con người

Pháp luật tại Việt Nam ghi nhận các quyền con người thông qua Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Điều này thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Pháp luật cũng quy định các biện pháp để bảo đảm các quyền này được thực hiện trên thực tế.

2.2. Pháp luật quy định nghĩa vụ và trách nhiệm

Pháp luật quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc bảo đảm quyền con người. Điều này bao gồm việc tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền của mình, đồng thời xử lý các hành vi vi phạm quyền con người. Pháp luật cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người.

III. Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam

Thực trạng vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam hiện nay có nhiều thành tựu nhưng cũng tồn tại một số hạn chế. Để nâng cao hiệu quả, cần hoàn thiện pháp luật hiện hành, tăng cường thực thi pháp luật và nâng cao nhận thức của người dân về quyền con người.

3.1. Thực trạng vai trò của pháp luật

Thực trạng vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam hiện nay có nhiều thành tựu, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế. Các văn bản pháp luật đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người, nhưng việc thực thi còn chưa đồng bộ và hiệu quả. Cần có các giải pháp để khắc phục những hạn chế này.

3.2. Giải pháp nâng cao vai trò của pháp luật

Để nâng cao vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường thực thi pháp luật và nâng cao nhận thức của người dân về quyền con người. Đồng thời, cần xây dựng các cơ chế giám sát và bảo vệ quyền con người một cách hiệu quả.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm “quyền con người” và “vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người” 1. Khái niệm “quyền con người” Trong lịch sử phát triển của loài người, quyền con người (nhân quyền) và quyền công dân (dân quyền) là những vấn đề có lịch sử lâu đời về phương diện thực tiễn cũng 10 như lý luận. Vấn đề đó luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại ở mỗi thời kì phát triển.

Mỗi bước phát triển của xã hội loài người đều tất yếu gắn với việc mở rộng các quyền con người và quyền công dân và đó là thành quả của đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình. Nhiều nhà nghiên cứu về nhân quyền trên thế giới và Việt Nam đều thừa nhận quan niệm của giáo sư Jacques Mourgon (giáo sư trường đại học Khoa học xã hội Toulouse, Pháp) về nhân quyền là quan niệm chứa đựng nhiều yếu tố hợp lí và phù hợp với những tiêu chí chung của nhân loại. Theo ông, quyền con người được hiểu là những đặc quyền tự nhiên vốn có của con người:“Đó là những khả năng hành động một cách có ý thức, tránh, từ chối hoặc yêu cầu, giành lấy những cái gì đó, nhất là nhu cầu tự bảo vệ” [9; tr 44] Quyền con người là khả năng thực hiện những đặc quyền tự nhiên và khách quan của con người với tư cách là con người và với tư cách là thành viên của xã hội được bảo đảm bằng hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lí quốc tế về các giá trị của con người trong các quan hệ vật chất, văn hóa, tinh thần, các nhu cầu về tự do và phát triển. Điều này có nghĩa là có mối quan hệ giữa quan niệm của thuyết pháp luật tự nhiên về quyền con người với quan niệm quyền con người gắn với các thiết chế quyền lực ( Nhà nước và pháp luật).

Một mặt, con người sinh ra đã có các quyền tự nhiên bẩm sinh, vốn có của mình rồi chứ không cần đợi đến khi có pháp luật và pháp luật ghi nhận thì chúng mới hình thành. Mặt khác, pháp luật của Nhà nước chỉ ghi nhận và bảo đảm quyền con người chứ không quy định quyền con người. Điều đó xuất phát từ tính chất phức tạp của sự thống nhất lợi ích mỗi cá nhân con người với lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Học thuyết Mác – Lênin là một chỉnh thể thống nhất mà ở đó thể hiện toàn bộ những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của nhân loại, Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất “sinh vật – xã hội”, do đó quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” ( như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội”- sự thiết định của các quy chế pháp lí nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Cơ sở thống nhất giữa hai yếu tố đó, chúng ta có thể tìm thấy trong lý luận của Mác về 10 quyền con người, quyền con người là sản phẩm cao nhất của tiến trình vận động của lịch sử “một mặt là sản phẩm của những điều kiện xung quanh trong một cuộc đời” [39; tr 30] và do đó lại chính là “xã hội sản xuất ra con người” [38; tr 149] vì vậy bản thân con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội. “Trong mọi trường hợp con người luôn là động vật xã hội” [38; tr 24] từ đó việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó trong quan hệ xã hội, bởi vì “chỉ có trong cộng đồng thì mỗi cá nhân mới có những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, chỉ có trong cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân” [36; tr 269]. Như vậy Mác đã xuất phát từ quan niệm đúng đắn và khoa học về con người (chủ thể của quyền) để có cách hiểu đúng vấn đề quyền con người. Con người là “con người – xã hội” là sự “tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”, do đó quyền con người nằm ở tầng sâu của các quan hệ xã hội và hiển nhiên là mang bản chất đó.

Theo Mác và Ăng- ghen thì con người còn gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa, với những nhu cầu và lợi ích cụ thể, quyền con người gắn chặt với những quan hệ kinh tế, chịu sự chi phối của chế độ sở hữu và sự tồn tại, vận động của phương thức sản xuất xã hội. Vì vậy để giành lấy dân chủ và nhân quyền cần xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản. Nhân quyền vừa là quyền của cá nhân con người vừa gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định với tư cách là thành viên xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến vấn đề nhân quyền, sự nghiệp cách mạng của Người là sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì nhân quyền.

Nét nổi bật trong quan niệm của Bác về nhân quyền đó là sự thống nhất biện chứng giữa quyền con người với quyền độc lập dân tộc, bởi vì độc lập dân tộc chính là điều kiện để hiện thực hóa quyền con người. Người để lại một luận điểm nổi tiếng thể hiện tính thống nhất không thể tách rời giữa quyền con người với quyền dân tộc là “Tôi có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, Người khẳng định: “Một dân tộc nô lệ không thể có người tự do”. Trong bản Tuyên ngôn độc lập 1945, Người còn thể hiện quan niệm về nhân quyền một cách sâu sắc thông qua việc trích dẫn lời nói bất hủ của Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776 : “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền 10 bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ái có thể chối cãi được, trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, từ đó Người đi đến kết luận: “ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Người đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới về chất, đem lại quan niệm đúng đắn về quan hệ biện chứng giữa tự do cá nhân với tự do của cộng đồng, giữa giải phóng cá nhân với giải phóng xã hội. Bên cạnh đó Người cũng cho rằng để hiện thực hóa quyền con người thì sau khi giành được độc lập dân tộc, phải xây dựng một chế độ xã hội sao cho quyền tự do và quyền cơ bản khác của con người được đảm bảo. Quyền con người, quyền công dân là những khái niệm không đồng nhất xét về phương diện chủ thể và nội dung. Khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước đều cho rằng khái niệm “quyền con người” rộng hơn khái niệm “quyền công dân” vì khái niệm “con người” khác khái niệm “công dân”, mọi công dân đều là con người nhưng không phải mọi con người đều là những công dân mà chỉ cá nhân con người nào mang quốc tịch của một Nhà nước nào đó (có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với một Nhà nước, theo đó, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau), mới được coi là công dân của Nhà nước ấy.

Trong ý nghĩa pháp lý, khái niệm quyền công dân hẹp hơn, xác định hơn, không bao quát hết được các quyền của cá nhân con người được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế. Quyền con người được xã hội hóa, quốc tế hóa, được cộng đồng nhân loại thừa nhận và bảo vệ đối với mỗi cá nhân con người, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch…Nó không chỉ được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật quốc gia mà còn cả hệ thống pháp luật quốc tế. Quyền công dân chính là quyền con người được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật của một quốc gia cụ thể, xuất phát từ những điều kiện địa lí, lịch sử, dân tộc, tôn giáo…Nếu như quyền con người là giá trị chung của cộng đồng nhân loại thì quyền công dân là giá trị của mỗi quốc gia xác định. Về phương diện chủ thể, chủ thể của quyền con người, ngoài những cá nhân được xác định là công dân, còn bao hàm cả những người không phải là công dân (người nước ngoài, người bị pháp luật tước quyền công dân, người không quốc tịch…).

Những người này, tuy không 10 được hưởng các quyền công dân nhưng vẫn được hưởng các quyền con người với tính cách là một thực thể xã hội. Từ những quan điểm trên chúng ta có thể rút ra được kết luận sau: Thứ nhất, quyền con người luôn gắn chặt với mỗi người vừa với tư cách cá nhân vừa với tư cách thành viên xã hội. Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Thứ hai, quyền con người phải được xác định rõ bằng các quyền năng cụ thể, có tính chất phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, giới tính… Thứ ba, quyền con người vừa thể hiện thuộc tính tự nhiên của con người vừa là khái niệm nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn chặt với Nhà nước, chế độ chính trị, pháp luật.

Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan trong tương quan với các yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí… chỉ có thông qua pháp luật và thể chế thì nhu cầu, khả năng về quyền con người mới trở thành quyền được xác định. Với ba yếu tố trên, quan niệm về quyền con người vừa khẳng định cơ sở tự nhiên, giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử của quyền con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam hiện nay" tập trung phân tích sâu sắc về cách pháp luật Việt Nam đóng vai trò nền tảng trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Nó nhấn mạnh các cơ chế pháp lý, chính sách, và thực tiễn áp dụng pháp luật để đảm bảo quyền con người được tôn trọng và thực thi hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến sự phát triển của hệ thống pháp luật và quyền con người tại Việt Nam.

Để mở rộng hiểu biết về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học cơ chế rà soát định kỳ phổ quát UPR và việc thực thi nghĩa vụ báo cáo quốc gia của Việt Nam, nghiên cứu về cơ chế quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ bảo đảm quyền bầu cử của người bị tạm giữ tạm giam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng cung cấp góc nhìn cụ thể về quyền con người trong bối cảnh tố tụng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam giúp hiểu rõ hơn về việc đảm bảo quyền con người trong quá trình tố tụng hình sự. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!