Đặt vấn đề thừa nhận quyền được chết và hợp pháp hóa các hành vi an tử và trợ tử tại Việt Nam” năm 2016 của tác giả Vũ Lê Hải Giang, định nghĩa an tử như sau: “An tử là hành vi cố ý của một người thể hiện rõ ý định kết thúc cuộc sống của người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm giảm bớt sự đau đớn nặng nề, hoặc từ một tình trạng mà người muốn chết không thể chịu đựng được”. Luận văn thạc sĩ “Quyền an tử - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2014 của tác giả Nguyễn Mai Chi định nghĩa an tử là: “Hành vi được biểu thị dưới dạng hành động hoặc 1 Trương Hồng Quang (2012), Bước đầu tìm hiểu vấn đề quyền được chết trong bối cảnh hiện nay, trong cuốn: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 2 NM Harris (2001), The euthanasia debate, J R Army Med Corps, 147: p. 7 không hành động, mà bản thân việc này hoặc việc này có mục đích là giúp đỡ những cá nhân đang phải chịu đựng bệnh tật không có khả năng cứu chữa được chết có nhân phẩm, dể dàng và nhẹ nhàng hơn”.
Theo phân tích từ các quan điểm ủng hộ an tử, xem xét pháp luật của một số quốc gia đã hợp pháp hóa an tử cũng như quan điểm cá nhân, có thể hiểu: “An tử là tính chủ ý nhằm chấm dứt cuộc sống, đi kèm với nó là hành vi cố ý của một người nhằm chấm dứt sự sống của đối tượng là những người không còn khả năng cứu chữa một cách trực tiếp hoặc gián tiếp theo cách ít đau đớn, êm ái và vì mục đích là giải thoát cho sự đau khổ của người được an tử”. An tử bao gồm những nội dung sau: Thứ nhất, an tử phải có tính chủ ý chấm dứt sự sống của chủ thể hưởng quyền an tử Đây có thể nói là yếu tố quan trọng nhất của quyền an tử, vì suy cho cùng mục đích lớn nhất của quyền an tử là hướng đến lợi ích của người được an tử. Mà an tử là việc chấm dứt cuộc sống của một cá nhân xác định thì phải là ý chí chủ quan của người được an tử và không bị tác động, ép buộc bởi bất kỳ chủ thể nào khác. Nếu tính chủ ý chấm dứt sự sống không có thì an tử bây giờ sẽ chuyển hóa thành hành vi cấu thành tội phạm, tội xúi giục người khác tự sát hoặc tội giết người theo quy định của pháp luật hình sự.
Thứ hai, về đối tượng phải là những người không còn khả năng cứu chữa Bệnh nhân phải ở trong tình trạng y tế không còn khả năng cứu chữa, khi có kết luận giám định của bác sĩ về tình trạng bệnh lý của bệnh nhân, khả năng chữa trị là như thế nào? Bởi vì, an tử là quyền hướng tới một nhóm đối tượng cụ thể đặc biệt, cho nên tình trạng bệnh lý của người hưởng thụ quyền là một yêu cầu quan trọng giúp ta phân biệt được an tử với các hành vi tự tử, cũng như phân biệt hành vi thực hiện quyền an tử và hành vi trợ giúp, xúi giục người khác tự tử. Nhưng như thế nào là những người không còn khả năng cứu chữa? Hiện nay, chưa có một cách hiểu nào là chính thức được áp dụng cho phạm vi toàn thế giới. Bởi vì, vấn đề y học của các quốc gia sẽ là khác nhau, từng quốc gia sẽ có các tiêu chí phân loại về phạm vi các loại bệnh lý cụ thể. Theo tác giả Trương Hồng Quang, trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu về quyền được chết trong bối cảnh hiện nay” thì giới y học hầu hết thống nhất có hai dạng bệnh nhân3: “Những trường hợp chết não:“Tình trạng toàn não bộ bị tổn thương nặng, chức năng của não đã ngừng hoạt động và người chết não không thể sống lại 3 Trương Hồng Quang (2012), tlđd (1), tr.
Bệnh nhân sống hoàn toàn nhờ vào các biện pháp hỗ trợ như hô hấp, tuần hoàn và nuôi dưỡng nhân tạo,… nếu rút máy thì coi như sự sống chấm dứt. Trường hợp người bệnh mất ý thức kéo dài và không có khả năng hồi phục. Trường hợp này bệnh nhân có sống cũng chỉ là gánh nặng của gia đình, bản thân họ không còn biết khổ hay sướng. Đôi lúc người bệnh biểu lộ được ý chí của mình và hoàn toàn không sống nhờ các biện pháp nhân tạo.
Trường hợp này bao gồm cả bệnh nhân chịu nhiều đau đớn kéo dài nhưng không mất ý thức thường xuyên”. Lý do của các tình trạng bệnh lý trên có thể là hậu quả của một vụ tai nạn hay mắc phải những căn bệnh hiểm nghèo, những căn bệnh nan y mà thế giới hiện nay chưa có cách chữa trị. Thứ ba, an tử là hành vi cố ý của một người nhằm chấm dứt sự sống của người được an tử một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Xét về cách thức của chủ thể hành vi, an tử được phân thành an tử chủ động (active euthanasia) và an tử bị động (passive euthanasia)4. An tử chủ động (Active Euthanasia): An tử trong trường hợp này cần có sự tác động trực tiếp của người khác để giúp bệnh nhân chấm dứt cuộc sống nhanh chóng.
Ví dụ: Bác sĩ theo yêu cầu của bệnh nhân bằng phương thức tiêm thuốc giúp bệnh nhân chết đi một cách nhẹ nhàng, ít đau đớn. An tử bị động (Passive Enthanasia): An tử trong trường hợp này là sự tác động gián tiếp để bệnh nhân chết đi, bằng việc không thực hiện hoặc chấm dứt việc thực hiện, trị liệu cần thiết để kéo dài sự sống. Ví dụ: Bác sĩ rút ống trợ thở, ngừng việc tiêm hóa chất vào cơ thể. Thứ tư, an tử phải thực hiện theo cách thực hiện ít hoặc không gây đau đớn Lý do quan trọng nhất của quyền an tử là vì lợi ích của người được an tử.
Nếu an tử không đưa đến một cái chết nhẹ nhàng, ít đau đớn cho chủ thể hưởng quyền thì quyền an tử sẽ đi ngược lại với mục đích nhân đạo, cao cả mà nó hướng đến. Vì thế, cách thức thực hiện an tử phải hạn chế đến mức tối thiểu hoặc không còn sự đau đớn nào cho bệnh nhân, giúp cho người được hưởng quyền chấm dứt cuộc sống đau đớn, kéo dài. Thứ năm, an tử phải vì lợi ích của người được an tử An tử là vấn đề đang gây tranh luận chưa có hồi kết trên thế giới vì nhiều nguyên nhân nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm ủng hộ an tử bởi ý nghĩa nhân đạo mà quyền an tử mang lại. Do vậy, an tử phải là cái chết nhẹ nhàng giúp cho người 4 Nguyễn Mai Chi (2014), Quyền an tử - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
9 bệnh được giải thoát khỏi sự dày vò, đau khổ của bệnh tật chứ không vì bất kỳ lý do, nguyên nhân nào khác. Để đảm bảo lợi ích của người được an tử, cần căn cứ vào sự tự nguyện của chủ thể hưởng quyền an tử. Dựa trên sự tự nguyện, an tử được phân thành an tử tự nguyện (Voluntary Euthanasia), an tử không tự nguyện (Non – Voluntary Euthanasia) và an tử trái nguyện vọng (Involuntary Euthanasia)5. An tử tự nguyện (Voluntary Euthanasia) là hành vi an tử cho một người trong tình trạng tỉnh táo, có đầy đủ khả năng nhận thức và năng lực hành vi, hiểu rõ đề nghị an tử trong việc kết thúc cuộc sống một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
An tử không tự nguyện (Non – Voluntary Euthanasia) là hành vi an tử cho một người mà người đó không có khả năng bày tỏ sự đồng ý, không tự đưa ra ý muốn kết thúc sự sống do mắc tình trạng người thực vật vĩnh viễn, hôn mê hay tổn thương não,… Quyết định an tử để chấm dứt cuộc sống của họ do người khác đưa ra (người thân, người đại diện hợp pháp). An tử trái nguyện vọng (Involuntary Euthanasia) còn gọi là an tử ép buộc, là hành vi an tử cho một người hoàn toàn từ chối việc an tử, cũng như không có bằng chứng nào cho thấy mạng sống của người đó cần nên được chấm dứt, đây là hành vi bị xem là giết người. Do vậy, thuật ngữ “an tử” dùng trong các phần dưới đây chỉ bao gồm an tử tự nguyện và an tử không tự nguyện.2 Quyền an tử Xuất phát từ khái niệm an tử, từ đó ta có thể hiểu quyền an tử là một quyền nhân thân và chỉ dành cho một nhóm đối tượng cụ thể đặc biệt là những cá nhân rơi vào trạng thái bệnh lý không còn khả năng chữa trị, được quyết định kết thúc cuộc sống của mình với sự hỗ trợ của chủ thể thực hiện hành vi và tuân thủ một cách chặt chẽ các quy định của pháp luật về vấn đề này6. Tuy nhiên, quyền an tử có là quyền công dân hay không, vẫn là vấn đề đang còn nhiều tranh luận chưa có hồi kết.
Tại Việt Nam, quyền an tử vẫn luôn được đánh giá là một trong những vấn đề tương đối phức tạp khi việc áp dụng và đảm bảo thực thi trong đời sống vẫn còn gây nhiều tranh cãi7. Thực tiễn chứng minh rằng, chỉ có các quốc gia hợp thức hóa an tử hiện nay mới công nhận quyền an tử là một quyền công dân trong các văn bản pháp lý của quốc gia mình. Dù cho có bao nhiêu 5 Nguyễn Mai Chi (2014), tlđd (4), tr. 6 Nguyễn Mai Chi (2014), tlđd (4), tr.
7 Hứa Thị Thảo (2016), Quyền được chết không khả thi ở nước ta hiện nay, https://tuoitre.vn/quyen-duoc- chet-khong- kha-thi-o-nuoc-ta-hien-nay-1134088.htm, truy cập ngày 15/4/2023, “Tại Việt Nam, khi xây dựng Bộ luật dân sự 2005, đã có ý kiến về việc đưa cái chết nhân đạo vào quy định luật nhưng không được sự đồng thuận. Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 13, dự thảo sửa đổi Luật dân số do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo thì vấn đề cái chết nhân đạo cũng được các chuyên gia đưa ra. Các tranh cãi về vấn đề này vẫn chưa kết thúc giữa ý kiến ủng hộ và phản đối”. 10 quan điểm hay lập luận ủng hộ quyền an tử nên là một quyền công dân nhưng khi chưa có sự thống nhất về mặt lập pháp, chưa được quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia thì khi một người thực hiện hành vi giúp bệnh nhân thực hiện cái chết sẽ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật hình sự.