Sách Chuyên Khảo Về Các Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Điển Hình Trên Thế Giới - Phần 2

Khám phá các mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu trên thế giới qua phần 2 của sách chuyên khảo do Tô Văn Hòa chủ biên, Byung Sun Cho đồng tác giả.

Chuyên ngành

Mô Hình Tố Tụng Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách Chuyên Khảo
239
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Sách Chuyên Khảo và Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Điển Hình

Sách chuyên khảo này tập trung phân tích các mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, đặc biệt là hệ thống pháp luật hình sự của Cộng hòa Italia. Tác giả Tô Văn HòaByung Sun Cho đã nghiên cứu sâu về các quy trình tố tụng, từ giai đoạn điều tra đến xét xử, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về pháp luật hình sự quốc tế. Cuốn sách không chỉ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu pháp lý mà còn là nguồn tư liệu quan trọng cho việc cải cách hệ thống pháp luật trong nước.

1.1. Mô Hình Tố Tụng Hình Sự của Cộng Hòa Italia

Mô hình tố tụng hình sự của Italia được xem là một trong những mô hình pháp lý tiêu biểu trên thế giới. Hệ thống này kết hợp giữa tính chất thẩm vấn và tranh tụng, đảm bảo sự cân bằng giữa việc tìm kiếm sự thật và bảo vệ quyền lợi của bị cáo. Hệ thống hồ sơ kép là một đặc điểm nổi bật, trong đó chứng cứ được lưu trữ riêng biệt giữa giai đoạn điều tra và xét xử, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

II. Pháp Luật Hình Sự và Hệ Thống Pháp Luật

Cuốn sách đi sâu vào phân tích pháp luật hình sựhệ thống pháp luật của các quốc gia, đặc biệt là Italia. Tác giả nhấn mạnh vai trò của CTV (Công tố viên) trong việc điều chỉnh và bổ sung tội danh, đồng thời chỉ ra những giới hạn pháp lý trong quá trình này. Thẩm phán không có quyền can thiệp vào quyết định của CTV, nhưng có thể kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định này.

2.1. Quy Trình Điều Chỉnh Tội Danh

Quy trình điều chỉnh tội danh trong hệ thống tố tụng hình sự Italia được quy định chặt chẽ. CTV chỉ có thể điều chỉnh tội danh nếu có sự thay đổi không đáng kể. Nếu thay thế bằng một tội danh hoàn toàn khác, CTV phải tuân thủ các quy tắc bổ sung tội danh. Bị cáo không thể phản đối quyết định này, nhưng luật sư bào chữa có thể đề nghị hoãn phiên xử để chuẩn bị chiến lược bào chữa mới.

III. Nghiên Cứu Pháp Lý và Ứng Dụng Thực Tiễn

Nghiên cứu pháp lý trong cuốn sách không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn đề cập đến các ứng dụng thực tiễn. Tác giả phân tích các quy trình tố tụng, từ giai đoạn điều tra sơ bộ đến phiên tòa tranh tụng, nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm cho việc cải cách hệ thống pháp luật hình sự tại các quốc gia khác. Cuốn sách cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình tố tụng.

3.1. Thủ Tục Xét Xử Sơ Bộ

Thủ tục xét xử sơ bộ là một giai đoạn quan trọng trong mô hình tố tụng hình sự của Italia. Thẩm phán xét xử sơ bộ có nhiệm vụ đảm bảo sự hiện diện của các bên và xem xét liệu có đủ chứng cứ để đưa bị cáo ra xét xử. Phiên xử này có thể kết thúc bằng việc chính thức hóa tội danh hoặc tha bổng nếu không có đủ cơ sở để truy tố.

IV. Tố Tụng Hình Sự So Sánh và Pháp Luật Quốc Tế

Cuốn sách cung cấp cái nhìn so sánh về tố tụng hình sự giữa các quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh pháp luật quốc tế. Tác giả phân tích sự khác biệt và tương đồng giữa các hệ thống pháp luật, từ đó đưa ra những gợi ý cho việc hài hòa hóa các quy định pháp lý trên toàn cầu. Luật hình sự quốc tế và các công ước nhân quyền cũng được đề cập như một phần không thể thiếu trong nghiên cứu này.

4.1. Tính Công Khai trong Phiên Tòa

Một đặc điểm nổi bật của tố tụng hình sự Italia là tính công khai trong phiên tòa. Nguyên tắc này bắt nguồn từ Công ước châu Âu về Nhân quyền và đã trở thành quy tắc chung trong thủ tục xét xử. Tính công khai không chỉ đảm bảo sự minh bạch mà còn giúp quần chúng giám sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định, chẳng hạn như phiên tòa kín để bảo vệ quyền riêng tư hoặc an toàn của các bên.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu này (về những tình tiết cần chứng minh và chứng cứ cần đưa ra) không chỉ cho toà thấy ý niệm đầu tiên về vụ án mà còn cho phép toà án chấp nhận chứng cứ.?® Chứng cứ bao gồm không chỉ những gì mà người làm chứng đã nêu trong danh sách kể trên mà ? Theo cách này, bị cáo có thể biết về chứng cứ mà CTV đưa ra trước khi đến phần trình bày của mình.com/member_states/italy/country_report/. 250 NHỮNG MÔ HÌNH TTHS ĐIỂN HÌNH TRÊN THỂ GIỚI còn cả tài liệu, bằng chứng đối nghịch, và bất cứ chứng cứ nào khác mà bên đó muốn sử dụng trong phiên toà. Một đặc điểm khác của TTHS Italia là “tính chất công khai của phiên toà”. Đây là công cụ để bảo đảm sự minh bạch trong các hoạt động của toà án, trong diễn biến tố tụng thông thường và su kiểm soát của quần chúng đối với công tác quản lý tư pháp.

Nguyên tắc này có nguồn gốc từ nước ngoài (Công ước của châu Âu về Nhân quyền, điều 6/1) và đã trở thành một quy tắc chung trong thủ tục xét xử của tòa án Italia. Mặc dù vậy, hiện nay tính công khai đã trở thành một đặc điểm cơ bản của phiên toà xét xử được yêu cầu trong Bộ luật TTHS Italia (điều 471). Trường hợp không có sự công khai thì phiên toà được coi là không hợp lệ. Chỉ có hai trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định: thứ nhất là đối với những người được cho vào phòng xử án, thứ hai là đối với những trường hợp đặc biệt cần tránh không được xét xử công khai (hay còn gọi là “xử kín”).

3 Về trường hợp ngoại lệ thứ nhất, một số người không được cho vào phòng xử án, cụ thể là: người dưới 18 tuổi; người say rượu hoặc người bị thần kinh; người đang chịu các biện pháp phòng ngừa; người có vũ khí - trừ cảnh sát. Bên cạnh đó, để giữ trật tự chung, thẩm phán có thể quyết định hạn chế số lượng người cho vào phòng xử án (điều 471 Bộ luật TTHS). Về trường hợp ngoại lệ thứ hai, thẩm phán có thể ra lệnh tiến hành phiên xét xử - hoặc một số hoạt động của phiên toà - trong bí mật để bảo vệ đạo lý chung hoặc y tế cộng đồng; bảo vệ bí mật của Nhà nước (theo yêu cầu và vì lợi ích của Nhà nước); khi việc chấp nhận chứng cứ có thể làm tổn hại tới quyền riêng tư cá nhân của các bên hoặc của người làm chứng (nhưng chỉ đối với những vấn đề không liên quan tới tội danh); để bảo đảm diễn biến bình thường của phiên toa; để bảo vệ sự an toàn cho người làm chứng và bi cáo; trong trường hợp liên quan đến tội quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên, khi người bị hại dưới 18 tuổi, hoặc trong những trường hợp khác, theo yêu cầu của người bị hại (trong những thủ tục này, không cho phép đặt các câu hỏi về đời tư hoặc hoạt động tình dục MÔ HÌNH TTHS CUA CỘNG HÒA ITALIA 251 của người bị hại; trong trường hợp giám định trẻ dưới 18 tuổi (tuy nhiên, đây là quyết định của thẩm phán). Trong tất cả những trường hợp này, chỉ những người có quyền hoặc có nghĩa vụ tham gia tố tụng mới được cho vào phòng xử án, còn những người khác không được phép vào.

Theo nguyên tắc chung, phiên toà xét xử có thể được ghi âm, ghi hình, và được cho phép chụp ảnh với điều kiện có sự đồng ý của các bên và không gây ảnh hưởng tới diễn biến thông thường của phiên toà hoặc quá trình ra quyết định. Quyết định cho phép quay phim chụp ảnh phải do chính thẩm phán ký. Tuy nhiên, không cần thiết phải có sự đồng ý của các bên nếu thẩm phán thấy rằng phiên toà có lợi ích phù hợp với công chúng, và công chúng phải được biết về thủ tục tổ tụng (điều 147 Luật đi kèm Bộ luật TTHS) (Cavallini, 2005).?8 Tham chí khi việc quay phim chụp ảnh đã được thẩm phan cho phép, việc quay phim trực tiếp các bên, người làm chứng, chuyên gia giám định, phiên dịch - hoặc bất cứ người nào khác phải hiện điện tại toà - chỉ được thực hiện khi họ cho phép, nếu không sẽ bị luật pháp cấm (ví dụ: việc quay phim trẻ em dưới 18 tuổi luôn bị cấm, trừ khi được Toà án Vị thành niên cho phép,điều114/6 Bộ luật TTHS). Quy định này nhằm bao vệ sự riêng tư của những người tham gia tố tụng.

Phiên toà “xử kín” đôi khi cũng được ghi âm hoặc bị cấm ghi âm. Nếu lý do cần giữ bí mật liên quan tới việc bao vệ đạo lý chung, bí mật quốc gia, quyền riêng tư cá nhân của các bên hoặc của người làm chứng hay lợi ích của trẻ em thì việc ghi âm bị pháp luật nghiêm cấm. Ngược lại, nếu tinh bao mật liên quan tối những trường hợp khác (nghĩa là diễn biến bình thường của phiên toà, sự an toàn của người làm chứng và bị cáo) thì thẩm phán có thể cho ? Luật số 271 ngày 28/7/1989. Ví dụ: vụ xét xử cựu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bị buộc tội móc ngoặc với mafia (Toà sơ thẩm Palermo, 26/9/1995, Dir.76), vụ xét xử với tên gọi “Bàn tay sạch” vê những phát hiện phi pháp của các dang phái chính trị (Toà sơ thẩm Milano, 28/4/ 1994, Foro it.277 ss), và vụ án về tên giết người hang loạt nổi tiếng sống tai Florence (Toa sơ thẩm Firenze, 9/4/1994, Giur.605) được coi là có “lợi ích xã hội phù hợp”.

252 NHUNG MÔ HÌNH TTHS ĐIỂN HÌNH TREN THE GIỚI phép ghi âm, mặc dù như đã nói ở trên, công chúng không được cho phép vào phòng xử án (trong trường hợp này sẽ có sự hiện diện của nhà báo và nhiếp ảnh gia nhưng không phải là công chúng). Thủ tục thẩm uấn (điều tra công khai tại phiên toà) Khi chứng cứ được chấp nhận để đưa ra phiên xét xử, người làm chứng trước tiên được chất vấn bởi bên gọi họ đến, sau đó được các bên kia đối chất, và cuối cùng là được bên gọi họ đến thẩm vấn lại?” CTV sẽ đứng lên để trình bày về chứng cứ trước mặt thẩm phán và sau đó cùng với thẩm phán quyết định về thứ tự trình bày và chất vấn người làm chứng. Thông thường, người làm chứng do CTV gọi đến sẽ được thẩm vấn trước; tiếp đó, đến lượt người làm chứng do bị cáo gọi đến. Ở giai đoạn này, CTV sẽ đóng vai trò đối chất với người làm chứng của bên bào chữa.

Thứ tự xuất trình chứng cứ (CTV trước, bị cáo sau) có thể được thay đổi theo phần tranh tụng của các bên.??® Người làm chứng được phát biểu đầu tiên, tiếp theo là chuyên gia giám định và tư vấn kỹ thuật.?? Vụ án hình sự có thể bao gồm chứng cứ bằng tài liệu và những vật chứng khác, đối chất, giám định, v. Nguyên tắc tranh luận về chứng cứ trong pháp luật TTHS Italia cho phép mỗi bên được tự do trong việc quyết định thứ tự thẩm vấn người làm chứng và giám định chứng cứ, tạo nên chiến lược tranh tụng riêng của họ (Tonini 2007, 501). Thẩm phán chủ toa chỉ có thể chất vấn người làm chứng khi 27 Theo điều 498 của Bộ luật TTHS, bên mời nhân chứng sẽ trực tiếp hỏi người làm chứng mà mình mời đến, sau đó là các bên khác có thể tiến hành hỏi chéo. Khi kết thúc hỏi chéo, bên mời nhân chứng được phép hỏi người làm chứng một lần nữa.com/member_states/italy/(country reporL/, pp.

Người làm chứng do CTV mời đến sẽ được hỏi trước tiên, sau đó đến người làm chứng do nguyên đơn dân sự mời đến, cuối cùng là người làm chứng do bị cáo gọi đến. 9 Bất cứ khi nào cần đến kiến thức khoa học bên ngoài lĩnh vực pháp lý, thẩm phán phải chỉ định một chuyên gia, người này phải công bằng, tuân theo các quy tắc không bỏ phiếu (astensione) và loại trừ do không đủ tư cách (ricusazione) do thẩm phán quyétdinh. Công việc của chuyên gia được trả thù lao (Corso 1993, 250-251). Không được nhầm lẫn chuyên gia với tư vấn kỹ thuật (consulenti tecnici), người mà CTV và các bên có thể chỉ định trước cả khi thẩm phán chỉ định chuyên gia.

Tư vấn kỹ thuật phải dam bảo giữ bí mật nghề nghiệp. MÔ HÌNH TTHS CỦA CỘNG HÒA ITALIA 253 đã xong phần chất vấn của các bên. Trong trường hợp đó, các bên sẽ được thêm một lần thẩm vấn người làm chứng đó sau phần thẩm vấn của thẩm phán. Thẩm phán cũng có thể ra lệnh bổ sung thêm chứng cứ nhưng chỉ khi thực sự cần thiết.

Trong bất cứ thời điểm nào của quá trình xét xử, bị cáo cũng có thể đưa ra lời khai, đề nghị hoặc được đề nghị thẩm vấn. Các cuộc thẩm vấn tạo cho bị cáo cơ hội được lắng nghe, nhưng họ cũng có thể bị chất vấn. Trong khi thẩm vấn, bị cáo có thể không trả lời các câu hỏi, nhưng thái độ này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực với thẩm phán. Ngược lại, việc từ chối thẩm vấn không gây ảnh hưởng như vậy do được coi là biểu hiện của quyền được giữ im lặng (Corso 1993, 248-250).

Như vậy là các bên có quyền gọi chứng cứ, tuy nhiên thẩm phán có “thẩm quyền kiểm soát” việc chứng cứ được xuất trình như thế nào. Hơn nữa, thẩm phán có thể đảm nhiệm vai trò chủ động với “quyền khởi xướng”. “Quyền kiểm soát” có nghĩa là thẩm phán ra phán quyết về việc chấp nhận chứng cứ và có quyền loại bỏ chứng cứ trước đây đã đưa ra. Quyền của các bên được đưa ra chứng cứ đã nhận được rất nhiều sự quan tâm trong Bộ luật 1989, đây là kết quả của việc thực hiện điều 6 của Công ước Châu Âu về quyển con người, trong đó giam đáng kể quyền của thẩm phán được loại bỏ chứng cứ mà các bên xuất trình.

Do vậy, thẩm phán chỉ có thể loại ra những chứng cứ mà pháp luật cấm và chứng cứ rõ ràng là không cần thiết hoặc không liên quan. Thẩm phán còn có thể chấp nhận chứng cứ mà pháp luật không quy định. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể lấy chứng cứ bằng những phương pháp hoặc kỹ thuật có thể làm giảm sự tự nguyện cá nhân hoặc giảm khả năng ghi nhớ những tình tiết hoặc đánh giá chúng (điều 188 Bộ luật TTHS). Chế tài chung áp dụng đối với chứng cứ được lấy bằng cách vi phạm những quy tắc về tính chất chấp nhận được là cấm không được sử dụng chứng cứ đó tại toà.

Việc phan đối có thể được đưa ra vào bất cứ thời điểm nào trong thu tục tố tung (Perrodet 2005, 384).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sách Chuyên Khảo Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Điển Hình Trên Thế Giới - Phần 2" của Tô Văn Hòa và Byung Sun Cho cung cấp cái nhìn sâu sắc về các mô hình tố tụng hình sự trên toàn cầu, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển và ứng dụng của các hệ thống pháp luật khác nhau. Cuốn sách không chỉ phân tích các khía cạnh lý thuyết mà còn đưa ra những ví dụ thực tiễn, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về vấn đề này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực pháp luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015", nơi cung cấp thông tin chi tiết về chế định đồng phạm trong luật hình sự. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong bộ luật hình sự năm 2015" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tình huống pháp lý phức tạp liên quan đến tội phạm. Cuối cùng, tài liệu "Luận án tiến sĩ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm trong luật hình sự việt nam" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các tình tiết tăng nặng trong luật hình sự Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực pháp luật hình sự.