Chương 1: Lý luận chung về hiệu lực của hợp đồng và thay đổi hoàn cảnh; Chương 2: Lý thuyết về thay đổi hoàn cảnh tập quán quốc tế và pháp luật của một số quốc gia; Chương 3: Đề xuất diễn giải và hoàn thiện quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG VÀ THAY ĐỔI HOÀN CẢNH 1. Lý luận chung về hiệu lực của hợp đồng 1. Khái niệm hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng (a) Hợp đồng Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình.
Tuy vậy, thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật của hầu hết các quốc gia ngày nay được tìm thấy không dễ dàng. Nhiều luật gia cho rằng thuật ngữ ‘hợp đồng’ (contractus) được hình thành từ động từ ‘contrahere’ trong tiếng La-tinh, có nghĩa là ‘ràng buộc’, và xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V – IV TCN.7 Mãi đến thời của luật gia La-be-ôn (thế kỷ 1 sau CN), người La Mã mới chính thức sử dụng thuật ngữ ‘contractus’ trong luật, và quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận và bảo vệ dưới thời của hoàng đế Justinnian.8 Các luật gia La Mã đã định nghĩa hợp đồng “contractus” là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trưng không thể thiếu: Một là, phải có sự thỏa thuận (conventio, consensus), tức là có sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý. Hai là, phải có mục đích nhất định (causa) mà các bên hướng tới.9 Sau này, pháp luật các nước phương Tây đã kế thừa và phát triển quan niệm pháp lý từ thời La Mã và đã sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng”, mà trong tiếng Anh được viết là “contract”, và trong tiếng Pháp là “contrat”. Bắt đầu từ bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới là BLDS của Pháp (1804), cho đến các bộ luật dân sự hiện hành của các 7 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb.
Zabocka (1999), Luật La Mã, dịch: Lê Nết, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr. 8 Nguyễn Ngọc Đào (1994), Giáo trình Luật La Mã, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, tr. 9 Nguyễn Ngọc Khánh, “Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 8, tr.
13 quốc gia khác như: BLDS của Nhật Bản (1895), BLDS của Đức (1896), BLDS của Nga (1994).10 Hợp đồng được định nghĩa trong pháp luật một số quốc gia như sau: Điều 1101 của BLDS Pháp 180411 định nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”. BLDS Đức 1896, sửa đổi năm 200312 không đưa ra định nghĩa hợp đồng như BLDS của Pháp. Vì vậy, khái niệm hợp đồng phải dựa vào quy định của Điều 241 BLDS về khái niệm nghĩa vụ, theo đó, “trên cơ sở nghĩa vụ, người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nhất định. Thực hiện hành vi có thể bao gồm cả việc không thực hiện hành vi”.
Người Đức không quan tâm đến bản thân khái niệm mà chú trọng tới ý nghĩa pháp lý của hành vi do người có năng lực kí kết hợp đồng thực hiện. Hợp đồng là giao dịch pháp lý hình thành từ sự thỏa thuận giữa ít nhất hai bên, trong đó thể hiện ý chí của bên này đối với bên kia.13 Theo quy định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác”. Trong hệ thống Thông luật, khái niệm “Hợp đồng” cũng được hiểu một cách khá thống nhất. Người Anh cho rằng, điểm cốt yếu của hợp đồng là sự gặp gỡ ý chí của các bên trong việc thỏa thuận cuối cùng và đầy đủ.14 Năm 1765, trong cuốn sách Commentaties on Laws of England, tác giả Blackstone – người có công lao vô cùng 10 Lê Minh Hùng (2010), LATS, Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, tr.8, Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh (LATS). 11 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (bản dịch sang Tiếng Việt) (2006), Nxb. 12 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức (Bản dịch sang tiếng Anh - 28 September 2009, I 3161, © 2010 juris GmbH, Saarbrücken, xem: www. 13 Vũ Thị Lan Anh (2011), “Chế định hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Luật học – Đặc san 9/2011, tr.
Anson (1965), Principles of the English Law of Contract and of Agency in its Relation to Contract, Twenty second Edition, Oxford at the Clarendon Press, p. 14 to lớn trong việc phát triển pháp luật Anh và Hoa Kỳ, lại đề cập rất ít ỏi về hợp đồng. Ông cho rằng, hợp đồng không gì khác hơn là một tiểu phân ngành của luật tài sản.15 Ở Mỹ, cuốn từ điển pháp luật Deluxe Black’s Law Dictionary đưa ra định nghĩa về hợp đồng như sau: “Hợp đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc nhất định”.16 Tương tự, trong Bách Khoa toàn thư về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định”.17 Định nghĩa này thể hiện rõ ràng hơn bản chất và mục đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nó cũng có tính “hội nhập” hơn với khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thế giới.18 Định nghĩa “hợp đồng” cũng được quy định tại Điều 1-201 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America, viết tắt là UCC): “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự ‘thỏa thuận’ của các bên…” Từ các định nghĩa của hợp đồng, chúng ta có thể đi theo logic từ hành vi pháp lý, tới sự thỏa thuận giữa các bên rồi hợp đồng.19 Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi, nghĩa vụ. Sự thể hiện ý chí có thể là đơn phương (như lập di chúc, đơn phương chấm dứt hợp đồng,.), hoặc có thể là đa phương, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục đích xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi được gọi là hợp đồng.
Vậy, hợp đồng được định 15 Willism R. 16 Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2016(5); Deluxe Black’s Law Dictionary, West Publishing Co, 1990. Claps (2005), West’s Encyclopedia of American Law, 2nd Edition, 2nd Edition, Volumm 13, Dictionary & Indexes, Thomson Gale, MI, p. 19 Ngô Huy Cương (2006), Góp bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay (Sách chuyên khảo), Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, tr. 15 nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm xác lập, thay đổi hay cấm dứt quyền lợi.20 Có thể thấy, định nghĩa về hợp đồng thể hiện hai vấn đề lớn: thứ nhất, là sự trao đổi và thống nhất giữa các ý chí hay sự thỏa thuận; và thứ hai, là việc tạo lập ra một hậu quả pháp lý.21 Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ về hợp đồng như khế ước, giao kèo, ước định… Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ 193122, và trong Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 – 1939, thuật ngữ ‘khế ước’ được sử dụng phổ biến hơn. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không còn sử dụng thuật ngữ “khế ước” hay “hiệp ước” như trước đây mà sử dụng thuật ngữ “hợp đồng”, trong đó bao gồm cả hợp đồng dân sự (như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng hợp tác, hợp đồng dịch vụ…) trong Bộ luật Dân sự, hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại 2005 hay hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động 2012,… Các quy định về hợp đồng của BLDS 2005 được áp dụng không chỉ được áp dụng cho các quan hệ dân sự mà còn được áp dụng chung cho tất cả các quan hệ hợp đồng trong các quan hệ kinh doanh, thương mại, lao động. Việc sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” trong BLDS dễ gây hiểu nhầm, do thuật ngữ “dân sự” có thể hiểu theo nghĩa rộng điều chỉnh các quah hệ kể trên và cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp để chỉ những quan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.23 Do đó, BLDS Việt Nam 2015 đã thay thuật ngữ “hợp đồng dân sự” bằng thuật ngữ “hợp đồng” để đảm bảo tính chính xác, phản ánh đúng phạm vi điều chỉnh của chế định hợp đồng.
Với việc ghi nhận nhiều nền tảng pháp lý quan trọng và cơ bản, BLDS Việt Nam 2015 có thể được xem là luật chung và luật gốc của pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam, định 20 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 21 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 22 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 định nghĩa: “Khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để tặng cho, để làm hay không làm cái gì” (Điều 644, đoạn 2). Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 định nghĩa: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì” (Điều 680, đoạn 2).
23 Bùi Thị Thanh Hằng, Đỗ Giang Nam (2012), “Đánh giá bước đầu chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, 28, tr. 16 hướng cho sự phát triển của pháp luật về hợp đồng trên các lĩnh vực chuyên ngành. Theo quy định tại Điều 385 của BLDS Việt Nam 2005, hợp đồng được định nghĩa như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.