Chương 1,10,14 -TS. Vương Thanh Thúy — Chương2 -TS. Nguyễn MinhOanh — Chương 3 ~ TS. Vũ Thị Hồng Yến Chương 4 - ThS.
Chu Thị Lam Giang — Chương 5 - ThS. Nguyễn Hoàng Long — Chương 6 ~ ThS. Kiều Thị Linh Chương 7 ~ ThS. Nguyễn Thị Long.
Chương 8 ~ Th§. Lê Thị Giang Chương 9 ~CN. Lê Quang Vinh Chương 11 - ThS. Nguyễn Văn Hợi Chương 12 - ThS.
Hoàng Thị Loan Chương 13 LỜI NÓI ĐÀU Qua gin 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự năm 2005 đã phát huy hiệu quả điều chính các quan hệ dân sự, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, bảo đảm an toàn pháp ly trong giao lưu dân sự, góp phan thúc day phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Tuy nhiên, cũng qua thực tiễn thi hành, Bộ luật din sự năm 2005 đã bộc lộ những bắt cập, mâu thuẫn, chồng chéo, từ đó đặt ra yêu cầu cấp bach phải sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh các vấn đề liên quan trong lĩnh vực dân sự. Bộ luật dn sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 là kết quả của sự sửa đổi căn bản, toàn diện và là bước đột phá trong tư duy pháp lý về đổi mới, góp phần hoàn thiện thẻ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiển pháp năm 2013 được ban hành. Nhằm tạo điều kiện dé tìm hiểu những điểm mới cũng như góp.
phan nghiên cứu, áp dụng Bộ luật dan sự năm 2015, Nhà xuất bản ‘Tu pháp trân trọng giới thiệu cuốn “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dan sự năm 2015” đến bạn đọc. Trong quá trình biên soạn, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, Nha xuất bản Tư pháp và nhóm tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý của bạn đọc dé cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần tái bản. Hà Nội, tháng 6 năm 2016 NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHAP a A. BÌNH LUẬN KHOA HỌC NHỮNG ĐIÊM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 Bink luận khoa học nhiững điền mới của Bộ Int dân sự năm 2015 Chương1 TONG QUAN VE NHỮNG DIEM MỚI CƠ BẢN CUA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 Qua thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi chung là BLDS 2005) cho thấy Bộ luật này đã phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân của cá nhân, quan hệ tài sản của pháp nhân trong các quan hệ dân sự, quan hệ thương mại, quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân và gia đình như đã được quy định tại Điều 1.
BLDS 2005 co bản đã bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dan sự, góp phần thúc day phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian qua. Qua gần 10 năm thi hành BLDS 2005, cũng là thời gian ma đất nước ta đã phát triển vượt ngưỡng. nước có thu nhập thấp và trở thành nước có thu nhập đạt mức trung bình ới tiêu chu xã hội có nhiều phát triển theo sự phát triển kinh tế của thé giới và khu vực. trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập.
quốc tế, các quan hệ dân sự, thương mai. cũng có nhiều thay đôi cẳn phải điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Để chuẩn bị cho việc sửa đổi BLDS 2005, ngày 18/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật dân sự (sau đây gọi chung là BLDS). Dé chuẩn bị cho việc sửa đổi BLDS 2005, Bộ Tư pháp đãtổ chức tổng kết thi hành BLDS 2005 ngày 15/7/2013.
Báo cáo tổng kết thi hành BLDS 2005 của Bộ Tư pháp đã đánh giá tương đối đầy đủ những thành quả đạt được khi áp dụng BLDS dé bảo vệ quyền vả lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và lợi ích công cộng. Mặt khác, Báo cáo tổng. kết cũng chỉ ra những điểm hạn chế cơ bản của BLDS 2005 mà can phải sửa đổi để điều chỉnh quan hệ dân sự phù hợp với cơ chế thị Bink luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dan sự năm 2015 trường, như BLDS và văn bản hướng dẫn thi hành chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống pháp luật trong Nha nước pháp quyển, chưa bảo. đảm được tính ổn định, tính hệ thống, tính dự báo, tính minh bạch, tính khái quát cho nên chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Mặt khác, BLDS chưa đáp ứng được vai trò nền tảng, là luật chung cho các luật liên quan. Ngoài ra, BLDS 2005 còn nhiều quy định mà luật riêng đã điều chỉnh, như các giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ và một số hợp đồng cụ thể khác. Vì những, bất cập trên mà cần phải sửa đổi BLDS 2005 để Nha nước ta có BLDS phù hợp hơn với cơ ché thị trường và có tính hội nhập quốc tế cao. Về cơ cấu của Bộ luật Dân sự năm 2015 Cơ cấu các phần của Bộ luật dân sự năm 2015 (sau đây gọi chung là BLDS 2015) có sửa đổi cơ bản, như ở Phan thứ hai ngoải vật quyền chính là quyền sở hữu, Phan nay bổ sung các vật quyền khác đối với tài sản như quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.
Đây là những, quyển tài sản phái sinh từ quyền của chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, khi quy định là một vật quyền sẽ cho phép chủ thé mang quyền thực. hiện quyền của mình độc lập tương đối với chủ sở hữu, các chủ thể mang vật quyền có thể khai thác lợi ích của tài sản một cách có hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và trong sinh hoạt tiêu dùng. Phần thứ ba (Nghĩa vụ và hợp đồng), BLDS 2015 bỗ sung hai biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là cằm giữ tài sản và bảo lưu.
quyền sở hữu. Những quyền này đã được quy định trong BLDS 2005, tuy nhiên, BLDS 2005 chỉ quy định nội dung của quyền ma chưa quy định trình tự, thủ tục thực hiện và bảo vệ các quyền nay dẫn dén hiệu quả diéu chính chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập. * Bộ Tu pháp - Báo cáo tổng kết thi hành BLDS 2005. 10 Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 Trong Chương XVI (Một số hợp đồng thông dụng), BLDS 2015 bố sung hợp đồng hợp tác.
Đây là một loại hợp đồng đặc thù trong việc liên kết liên doanh củng sản xuất, kinh doanh của nhiều cá nhân, doanh nghiệp để thực hiện mục đích kinh tế chung. BLDS 2015 loại bỏ một số chương, mục đã được quy định trong luật riêng. như hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thuê nhà ở đã quy định trong Luật nhả ở; phần quy định về quyền sở hữu trí tuệ loại bỏ định này đã được quy định cụ thể trong Luật sở hữu Mục 7 Chương XVI (Hợp đồng về quyền sử dụng dat) quy định về những nội dung cơ bản của hợp đồng về quyền sử dụng đất, còn các hợp đồng cu thể về quyền sử dung đất đã điều chỉnh trong Luật đất đại. Những quy định chung trong BLDS 2015 2.
Pham vi điều chỉnh của BLDS và sự công nhận, bảo hộ quyền dan sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm vi điều chỉnh của BLDS là những quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa các chủ thể. Bên cạnh đó các luật riêng cũng điều chỉnh. quan hệ nhân thân và quan hệ tai sản, vi vậy việc xác định phạm vi điều chỉnh của BLDS có ý nghĩa quan trọng. Điều 1 BLDS 2015 không quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dân sự trong các quan hệ lao động, thương mại, hôn nhân và gia đình như Điều 1 BLDS 2005.
Điều 1 BLDS 2015 quy định phạm vi điều chỉnh của BLDS là các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm dân sự. Quy định này có tính bao quát và thể hiện là “luật nền” cho các luật liên quan, nhằm định hướng. để các luật riêng khi quy định những quyền và nghĩa vụ dân sự phải phù hợp với các nguyên tắc của BLDS. Ở Việt Nam, các quyển dân sự của cá nhân và pháp nhân được 11 Bink luận khon học những điễm mới cia Bộ luật ein sự năm 2015 Nha nước công nhận và bảo hộ dựa trên các quy định của Hiến pháp.
à các luật khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hờa xã chủ nghĩa Việt Nam. VỀ nguyên tắc, quyển dân sự không bị hạn chế, tuy nhiên trong một số trường hợp và đối với một số chủ thể nhất định thì có thể bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 2). Đây là những lý do chính đáng trong những trường hợp đặc biệt thì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng phải được đặt trên lợi cá nhân. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Điều 3 BLDS 2015 quy định những nguyên tắc cơ bản, đặc trưng.
thể hiện bản chất của quan hệ dân sự (như nguyên tắc bình đẳng), thể hiện tính chất của quan hệ dân sự (như nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; nguyên tắc thiện chí, trung thực) và các nguyên tắc mang tính pháp chế (như nguyên tắc tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; nguyên tắc tự chịu trách nhiệm dân sự). Đây là những nguyên tắc thể hiện trong tắt cả các chế định pháp luật dân sự. Mặt khác, đây là các nguyên tắc mang tính chỉ đạo trong việc áp dụng pháp luật dân sự và trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật thì Tham phán dựa vào nguyên tắc này dé giải quyết tranh chấp.