mở đầu cho sự hình thành và phát triển của khoa học pháp lí nói chung và khoa học luật Hiến pháp nói riêng. Mỗi bản Hiến pháp sau này đánh dấu những đổi thay của đất nước và những tiến bộ trong kĩ thuật lập pháp của chúng ta. Từ khi hình thành cho đến nay, lịch sử khoa học luật Hiến pháp Việt Nam có thể được chia thành 3 giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là từ sau cách mạng tháng Tám cho đến trước 1980, giai đoạn thứ hai từ nam 1980 đến 1992, giai đoạn ba từ 1992 cho đến nay.
Trên cơ sở ra đời của các bản Hiến pháp, đã có nhiều bài viết, tác phẩm về Hiến pháp, về nội dung của Hiến pháp như cuốn Nhà nước và Pháp luật của Hội luật gia Việt Nam (1971), Hiến pháp là gi? Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Tổ chức chính quyền Nhà nước ở địa phương. Lich sử và hiện tại. Nhìn chung, các tác giả đều cố gắng làm sáng tỏ nội dung các bản Hiến pháp, phân tích khía cạnh pháp lí trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Một số công trình có dé cập tới vấn đề kĩ thuật pháp luật nhưng mờ nhạt.
Cho đến nay, có thể nói hầu như chưa có bài báo nào nghiên cứu riêng về vấn đề ngôn ngữ trong các văn bản Hiến pháp. trong khi đó hầu hết đều thống nhất rằng: Do tầm quan trọng to lớn của Hiến pháp. “Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp tạo cơ sở pháp lí cho việc xây dựng hệ thống pháp luật, thiết lap hệ thống chính trị”, nên “. phổi xây dựng các quy định của Hiến pháp sao cho chúng vừa có tính khái quát, tính nguyên tắc, vừa có tính thích nghỉ cao đối với những thay đổi thường xuyên trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước” [2]).
Để đạt được mục đích này cần phải nâng cao hơn nữa ki thuật pháp luật mà trong đó sử dụng nguồn lực ngôn ngữ như thế nào là một trong những yếu tố quan trọng. Như vậy, từ chỗ là một nước thuộc địa không có hiến pháp (cho tới cuối năm 1945): nước ta đã giành được độc lập, từng bước phát triển và cho tới những năm 11 cuối của thế kỷ XX, chúng ta đã xây dựng được một bản Hiến pháp tiên tiến, hiện đại, là Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001). Đây là bản Hiến pháp đang có hiệu lực và chúng tôi chọn phân tích ngôn ngữ trong văn bản này trong sự đối chiếu so sánh với ngôn ngữ trong Hiến pháp Hoa Kì, bản Hiến pháp có lịch sử lâu đời nhất vẫn đang được áp dụng. Tình huống diễn ngôn của văn bản Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kì Việc Anh thuộc dia hoá Bac Mi là nhân tố co bản nhất của sự phát triển hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp Hoa Kì theo truyền thống Common Law (thông luật).
Những người dân Anh di cư sang Mi và thành lập nhiều xứ thuộc địa độc lập từ những thập niên đầu của thế ky XVII như bang Virginia, Maryland, Massachusettes, New York. Các thuộc địa độc lập áp dụng Common Law của Anh và đã đặt nền móng cho anh hưởng của hệ thống pháp luật này tại Mi. Vào những năm đầu của thế kỷ XVIII, Common Law của nước Anh được áp dụng rộng rãi ở các bang thuộc địa này. Nhiều quy định của Common Law, nhiều đạo luật của Anh được áp dụng nguyên bản.
Việc áp dụng Common Law của Anh đã trở thành xu hướng chung ở đây. Năm 1776 các thuộc địa tuyên bố độc lập và vào năm 1783 Hợp chủng quốc Hoa Kì tuyên bố nền độc lập. Trong thời kì này, dưới ảnh hưởng của tư tưởng cộng hoà, việc đấu tranh để xây dựng một nền pháp luật riêng cho Hoa Kì diễn ra mạnh mẽ. Xu thế pháp điển hoá pháp luật lan nhanh.
Nhiều bang đã có Hiến pháp riêng và có xu hướng xây dựng chủ quyền. Chính quyền liên bang trở nên yếu kém, không có đủ nguồn lực để đối đầu với các bộ lạc da đỏ và trả lãi những món nợ đi vay từ thời chiến tranh giành Độc lập. Liên bang có nguy cơ tan rã. George Washington đã chủ trì Đại hội đại biểu gồm những chính khách lỗi lạc của nước Mĩ để soạn thảo Hiến pháp.
Sự ra đời của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kì năm 1787 đã thực sự đặt nền móng cho một hệ thống pháp luật độc lập, đáp ứng những đòi hỏi, nhu cầu phát triển của chính nước MI. Sự hùng mạnh của Hoa Kì trên tất cả các mặt như hiện nay chắc chắn có phần đóng góp không nhỏ của văn bản pháp luật quan trọng này. Cho đến nay Hiến pháp Hoa Kì đã được bổ sung 27 tu chính án. Chính khách người Anh William E.
Gladstone đã mô tả Hiến pháp Hoa Kì là “tác phẩm tuyệt vời nhất được sản sinh ra vào một thời điểm lịch sử bởi trí tuệ và mục đích của con người”. Trong một thế giới đổi thay và tranh đấu, nhân dân Mi không có tài sản nào quý giá hơn văn kiện vĩ đại này. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN. Từ những khảo sát về ngôn cảnh của văn bản cần phân tích ở phần trên, trong phần này chúng tôi sẽ trình bày và lựa chọn một số cơ sở lí thuyết phù hợp làm nền tảng cho luận án.
Đó là quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về ngôn ngữ, phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán được phát triển dựa trên các nguyên lí cơ bản của ngữ pháp chức năng - hệ thống. Ngữ pháp chức năng hệ thống: Ngôn ngữ, ngôn cảnh và văn bản Quan điểm của M. Halliday về ngôn ngữ. Ngữ pháp chức năng hệ thống do Halliday phát triển dựa trên các thành tựu của ngôn ngữ học châu Âu với những nhà ngôn ngữ học tiền bối như F de Saussure, Hjelmslev, Firth.
Theo Halliday ngôn ngữ là một hệ thống các lựa chọn có liên hệ tương tác với nhau. Các lựa chọn này được hình thức hoá bằng các hệ thống như số đơn đối lập với số nhiều, chủ động đối lập bị động, khẳng định đối lập phủ định. Đây là một phần nguồn gốc của tên gọi chức năng hệ thống [137]. Halliday tập trung vào các chức năng tạo cho ngôn ngữ một hình thức như hiện có, và cách nhìn nhận này thường được gọi là ngôn ngữ theo cách nhìn nhận xã hội kí hiệu học.
Halliday [122] nhận định: “ngôn ngữ như là một trong những hệ thống tạo nghĩa làm nên van hoá loài người. ngôn ngữ gan kết chủ yếu với một bình diện cu thể của kinh nghiệm loài người, đó là bình diện cơ cấu xã hội”. Quan điểm của ngữ pháp chức năng - hệ thống về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngôn cảnh. Các nhà ngôn ngữ học trước Halliday cho rằng để giải thích ý nghĩa của một câu người ta cần miêu tả bản thân câu đó và đồng thời cả ngôn cảnh mà câu đó được sử dụng [Martin 137].
Phát triển các quan điểm của Malinowski và Firth, kết hợp với luận điểm của Sapir về Whorf, Halliday phân tích: “Hai truyền thống sáng lập việc nghiên cứu ngôn ngữ trong ngôn cảnh này, truyền thống Anh với Malinowski và Firth và truyền thống Mi với Sapir và Whorf bổ sung mật thiết cho nhau. Truyền thống đầu nhấn mạnh vào tình huống làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ là văn bản và nó nhìn nhận ngôn ngữ như một hình thức hoạt động hay sự diễn tả các quan hệ và quá trình xã hội. Truyền thống sau nhấn mạnh vào mặt văn hoá làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ như là 13 một hệ thống và coi ngôn ngữ như một hình thức phản ánh hay sự sắp xếp kinh nghiệm thành lí thuyết hoặc mô hình hoá hiện thực”. Ông chứng minh rằng toàn bộ cấu trúc ngữ pháp tức là cách thức mà tất cả các ngôn ngữ dựa vào để tạo ra nghĩa gan bó chặt chế với ngôn cảnh tình huống và văn hoá ma trong đó ngôn ngữ tiến hoá.
Theo Halliday: “Một lí thuyết về ngôn ngữ trong ngôn cảnh không đơn thuần chỉ là một lí thuyết về cách mọi người sử dụng ngôn ngữ như thế nào mà nó còn là một lí thuyết về bản chất và sự tiến hoá của ngôn ngữ, giải thích tại sao hệ thống đó lại hoạt động như nó đang hoạt động nhưng là sự giải thích chức năng dựa trên sự diễn giải kí hiệu học xã hội về các mối quan hệ và quá trình ngữ nghĩa”. Thuật ngữ “ngón cảnh” (context) theo Halliday [122: 20] là “một loại môi trường nào đó, là những gì xảy ra xung quanh mà ngôn ngữ có liên quan đến” và “môi trường phi ngôn trong đó ngôn ngữ được sử dụng”. Các nhà ngữ pháp chức năng - hệ thống còn phân biệt hai loại ngôn cảnh là ngôn cảnh văn hoá (context of culture) và ngôn cảnh tinh huống (context of situation). Ñgôn cảnh văn hoá là ngôn cảnh của ngôn ngữ như một hệ thống, của “tiém năng về nghĩa” (meaning potential), còn ngôn cảnh tình huống là ngôn cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, là văn bản, là những trường hợp cụ thể của ngôn ngữ.
“Văn hoá làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ như-là-hệ-thống, còn tình huống thì làm ngôn cảnh cho những hiện tượng của ngôn ngữ - như là văn bản” [ Halliday 122: 23]. Về văn bản, Halliday [122] quan niệm một van ban (text) thực sự được tạo nên bởi các ý nghĩa, đó là một đơn vị nghĩa (a semantic unit) được mã hoá bằng một cái gi đó nhằm mục đích thực hiện giao tiếp, một van ban vừa là sản phẩm (product) lại vừa là một quá trình (a process). Cụ thể, văn bản là một sản phẩm theo nghĩa nó là một đầu ra, một cái gì đó có thể ghi lại và nghiên cứu được, nó có một cấu trúc nhất định có thể được thể hiện ra một cách hệ thống. Văn bản là một quá trình, theo nghĩa là một quá trình liên tục của các lựa chọn về nghĩa, một sự vận động qua các hệ thống tiém năng về nghĩa trong đó mỗi một chuỗi chọn lựa lại tạo ra môi trường cho chuỗi tiếp theo.
Về mối quan hệ giữa văn bản và ngôn cảnh, Halliday lí giải như sau: Văn bản là hiện hữu của quá trình và sản phẩm của ý nghĩa xã hội trong một ngôn cảnh tình huống nào đó.