CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI TÍNH, CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 1. Khái quát chung về giới tính và chuyển đổi giới tính 1. Khái niệm về giới và giới tính Giới tính (Sex) và giới (Gender) là hai khái niệm rất hay bị nhầm lẫn là giống nhau. Tuy nhiên đây là hai thuật ngữ khác nhau và hoàn toàn không thể thay thế được cho nhau.
Điều này đã được phân biệt trong Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006. Khái niệm về giới “Giới” (Gender) là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (theo khoản 1 – Điều 5 Luật bình đẳng giới). Giới nghiêng nhiều hơn về việc sự định nghĩa và kỳ vọng của xã hội đối với một người: ví dụ như nữ phải mềm mại, phải biết nữ công gia chánh, bé gái phải chơi búp bê; nam phải mạnh mẽ, phải làm những việc to lớn, bé trai phải chơi siêu nhân… Những thứ này không phải sinh ra đã có, mà là do cách dạy dỗ của xã hội và sự kì vọng đối với một con người. Nếu phái nữ mà mạnh mẽ hay phái nam mà mềm mại thì sẽ bị coi là “trái tự nhiên”.
Giới phụ thuộc rất nhiều vào tư duy, tập quán, văn hóa, chính vì thế mà ở những vùng hay những nền văn hóa khác nhau thì quan điểm về giới lại khác nhau. Ví dụ vào thời kì con người theo chế độ mẫu hệ, thì phụ nữ lại mang trong mình quyền lực và tài sản Giới cũng có thể thay đổi theo thời gian. Có thể một đứa trẻ được nuôi dạy mình là giới nam, phải là trụ cột gia đình, phải ăn to nói lớn, trong thời gian đó em bé hành xử như những gì được dạy. Tuy nhiên, sau khi lớn lên, bạn ấy bị thu hút bởi những bạn nam khác, thích làm những việc nhẹ nhàng, muốn làm con gái,.
Thì lúc này, quan điểm về giới của người đó đã thay đổi. 9 Bình thường, người ta phân giới ra làm hai loại: Nam và nữ (hay còn gọi là nhị phân) nhưng nếu chỉ như vậy thì không hoàn toàn chính xác. Trên thực tế, giới là một phổ rộng hơn, chúng ta có thể định nghĩa bản thân là bất kì ở phần nào trong phổ này, thậm chí hoàn toàn không nằm trong phổ ở bất kì thời điểm nào. Ngoài sự khác nhau về giới nam, giới nữ,.
thì trong chính cùng một giới thì quan điểm và chuẩn mực cũng sẽ khác nhau, chẳng hạn như quan điểm và vai trò của giới nữ ở phương Tây khác phương Đông, địa vị xã hội của người Hồi giáo khác với địa vị xã hội của những người phụ nữ không thuộc đạo Hồi,. Có rất nhiều giới: Nam (male), nữ (women), giới tính linh hoạt (genderfluid) – lúc thấy mình là nam, lúc thấy mình là nữ, hoặc không phải cả nam và nữ, vô giới (agender) – nghĩ rằng mình không có giới,… Người được sinh ra có giới trùng với giới tính sinh học được gọi là hợp giới (cisgender), còn người sinh ra với giới tính không trùng khớp với giới tính sinh học được gọi là người chuyển giới (transgender). Không nhất thiết phải phẫu thuật mới được gọi à người chuyển giới. Tất cả điều này nêu lên một vài đặc điểm nổi trội của giới: Có nhiều giới, giới không mang tính bẩm sinh, có thể thay đổi theo thời gian và quan điểm, phong tục, tập quán.
Như vậy, ta có thể hiểu “giới” là sự thể hiện các yếu tố không chỉ tự nhiên mà cả yếu tố xã hội của con người, trong đó yếu tố xã hội được nhấn mạnh và coi trọng. Khái niệm về giới tính Cũng theo điều 5 luật Bình đẳng giới 2006, giới tính (Sex) là đặc điểm sinh học của nam và nữ. Giới chú trọng hơn đến phương diện sinh học, mang tính bẩm sinh, và không thay đổi theo thời gian (trừ khi có sự can thiệp của y 10 học). Một người được chỉ định giới tính từ khi được sinh ra (hay còn gọi là giới tính khi sinh) dựa trên các đặc điểm sinh lý: cơ quan sinh dục và thành phần nhiễm sắc thể (XY – đối với nam và XX – đối với nữ).
Ngoài ra, người ta có thể tìm thấy một số thể đặc biệt, bất phân nam – nữ khi một đứa trẻ sinh ra: Ví dụ như một bé sinh ra với bộ phận sinh dục nam nhưng lại có 2 hoặc 3 nhiễm sắc thể X, hoặc bé sinh ra với bộ phận sinh dục nữ nhưng lại có nhiễm sắc thể Y. Mặt khác, có trẻ lại không có cơ quan sinh dục điển hình. Người ta còn sử dụng một cụm từ chỉ cho hiện tượng này, đó là “intersex” – liên giới tính. Các nhà sinh học đã bắt đầu thảo luận về ý tưởng rằng giới tính có thể có tính chất như một quang phổ (nếu từng học vật lý thì chúng ta đều biết rằng quang phổ là dải ánh sáng kéo dài từ đỏ đến tím, trong đó có vô số màu sắc khác nhau liên tục – và giới tính cũng được cho là đa dạng như thế - với vô số phân loại).
Đây không phải là một khái niệm mới nhưng đã mất một thời gian để đi vào ý thức cộng đồng. Ví dụ, ý tưởng về giới tính như một phổ đã được thảo luận trong một bài báo xuất bản năm 1993 của Học viện Khoa học New York [33]. Khác với giới, ở bất cứ nơi nào và phong tục tập quán nào thì giới tính đều không thay đổi. Khái niệm “giới tính” chỉ rõ hơn đến những biểu hiện sinh học đặc trưng của một người.
Nếu như “giới” chú trọng về các yếu tố xã hội thì “giới tính” lại nhấn mạnh đến các yếu tố mang tính tự nhiên. Tương tự, để xác định giới tính của một người thì sẽ cần dựa vào các đặc điểm: bôh phận sinh dục, nhiễm sắc thể, … Thời điểm xác định giới tính của một người là thời điểm cấp giấy chứng sinh. Ở Việt Nam hiện nay, thông thường khi xác định giới tính của trẻ, người ta chỉ dựa vào bộ phận sinh dục, nếu không có bất kỳ bất thường gì ở bộ phận sinh dục thì giới tính của trẻ sẽ dựa vào bộ phận sinh 11 dục, nếu có các bất thường ở bộ phận sinh dục như khuyết tật, không thể phân biệt được thì sẽ cần thông qua thủ tục xác định lại giới tính để xác định chính xác giới tính của trẻ. Ngoài “giới tính”, thuật ngữ “nhận dạng giới” (hay còn gọi là “Bản dạng giới”) cũng là một khái niệm quan trọng và liên quan mật thiết đến giới tính.
Mỗi con người đều có một nhận dạng giới khác nhau – đó là cảm nhận của cá nhân đó về giới tính của bản thân mình. Họ có thể cảm nhận mình là nam, nữ hoặc giới tính khác. Bản dạng giới không phụ thuộc vào giới tính, có nghĩa là dù một người mang giới tính là nữ nhưng có thể nhận dạng giới của mình là nữ, là nam hoặc không phải cả nam lẫn nữ. Việc nhận dạng giới không tương đồng với giới tính chính là căn nguyên của việc bức bối giới tính, họ thôi thúc muốn thực hiện chuyển đổi giới tính để giới tính mới trùng khớp với nhận dạng giới của họ.
Có nhiều giả thuyết về cách thức và thời điểm hình thành bản dạng giới, các nghiên cứu về vấn đề này cũng rất khó khăn vì trẻ em chưa có ngôn ngữ nên các nhà khoa học phả nghiên cứu qua các biện pháp gián tiếp. Theo John William Money (1921 – 2006) Người New Zealand, giáo sư tâm lý học, nghiên cứu về giới tính - Đại học Johns Hopkins, trẻ em có thể nhận thức và gắn bó với một số đặc trưng về giới tính trong thời điểm sớm nhất từ 18 tháng đến 02 năm tuổi. Tại thời điểm này, trẻ em có thể nhận dạng chắc chắn về giới tính của mình và có xu hướng chọn các đồ chơi, quần áo phù hợp với giới tính của chúng mặc dù trẻ chưa hiểu hết về ý nghĩa giới tính. Các yếu tố xã hội có thể ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính: Như cách nuôi dạy của gia đình, phương tiện thông tin.
Như vậy, nếu trẻ em được nuôi dạy bởi những cá nhân tuân thủ các vai trò giới nghiêm ngặt thì có nhiều khả năng 12 chúng sẽ cư xử theo cùng một cách và cách đó phù hợp với nhận dạng giới của chúng theo kiểu giới tính khuôn mẫu. Ngoài ra, lý thuyết về học tập xã hội cho rằng trẻ em phát triển nhận dạng giới thông qua quan sát và bắt chước hành vi liên quan đến giới. Nhưng John Money lại không đồng ý với quan điểm này và cho rằng giới tính chỉ được xác định bởi sinh học. Ông lập luận rằng: Trẻ sơ sinh được sinh ra như một tờ giấy trắng và bố mẹ có thể nuôi dạy con mình như một giới tính mà họ mong muốn đối lập với giới tính sinh học của chúng, khi đó, đứa trẻ tin rằng chúng được sinh ra theo giới tính đó và có những hành vi theo giới tính được nuôi dạy.
Từ những phân tích nêu trên, ta có thể hiểu giới tính thể hiện những đặc điểm sinh học của Nam và nữ, có tính chất bẩm sinh, tự nhiên, sinh thành, biến đổi tuân theo quy luật sinh học gắn liền với cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi [16]. Phân loại giới tính Như đã phân tính ở trên, giới tính sẽ dựa trên những đặc điểm sinh học và mang tính bẩm sinh. Theo quan điểm sinh học, giới tính là tính trạng quyết định và phân chia con người thành hai loại: Giống đực và giống cái, hay nói theo cách khác là giới tính nam và giới tính nữ. Theo đó, giới tính được quyết định bởi nhiều yếu tố: ● Nhiễm sắc thể quy định giới tính: XX - tương ứng với giới tính nữ, XY - tương ứng với giới tính nam.
● Cơ quan sinh dục ○ Cơ quan sinh dục ngoài: dương vật - tương ứng giới tính nam, âm đạo - tương ứng với giới tính nữ. ○ Cơ quan sinh dục trong: tinh hoàn - tương ứng với giới tính nam, buồng trứng - tương ứng giới tính nữ. ● Dựa vào đặc điểm giới tính thứ cấp: 13 ○ Đối với nam: có râu, cơ bắp phát triển, lộ yết hầu,. ○ Đối với nữ: vú phát triển, hông rộng,.
● Các hormone giới tính: ○ Đối với nam: Hàm lượng hormone Testosterone trong cơ thể cao. ○ Đối với nữ: Hàm lượng hormone Estrogen và Progesterone trong cơ thể cao.