CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN 1. Nạn nhân của tội phạm dưới góc độ tội phạm học 1. Khái niệm Ngày nay khái niệm nạn nhân được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Nạn nhân được sử dụng với nghĩa là những người bị thiệt hại.
Theo Từ điển tiếng Việt, nạn nhân được hiểu là: “Người bị tai nạn” hoặc “Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến”. 1165] Nạn nhân nói chung có thể được hiểu trong phạm vi rộng. Trong phạm vi này, nạn nhân có thể là cá nhân hoặc tổ chức chịu thiệt hại về về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm. Nạn nhân của tội phạm là một vấn đề luôn được các nhà lập pháp đề cập đến trong các văn bản luật.
Việc làm rõ khái niệm nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn xây dựng các biện pháp, chính sách đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về nạn nhân của tội phạm và vấn đề này đang gây nhiều tranh luận. Các tranh luận về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Xu hướng xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp đã được nhiều học giả trên thế giới đưa ra.
Học giả Hans von Hentig - một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân đã quan niệm nạn nhân là cá nhân con người. Theo ông, nạn nhân của tội phạm là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đối với các quyền và lợi ích họp pháp 7 và trên thực tế phải chịu những tổn hại về vật chất hoặc sức khỏe, tính mạng, tinh thần. [28] Theo quan điểm của Haiz Zipf thì nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong những trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án. [29] Quan điểm này cũng đồng quan điểm với Willem Hendrik Nagel: nạn nhân của tội phạm là những người bị người phạm tội xâm phạm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ.” [31] Như vậy các quan điểm này đều xác định nạn nhân theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các cá nhân con người với hai điều kiện cơ bản: nạn nhân của tội phạm phải là những cá nhân con người và nạn nhân của tội phạm phải là những người chịu những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay tài sản.
Nạn nhân của tội phạm không chỉ được xem xét theo nghĩa hẹp mà còn được xem xét theo nghĩa rộng. Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại. Paasch xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế. Theo ông, nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là các cá nhân con người (thể nhân) và các pháp nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận.
[29] 8 Tác giả Andrew Karmen trong bài viết “Crime Victims: An Introduction to Victimology”(1990), ông đã nêu khái niệm nạn nhân của tội phạm như sau: “Nạn nhân của tội phạm là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào hoặc bất kỳ thực thể kinh doanh nào bị thiệt hại hoặc mất mát bởi hành vi phạm tội. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về thể chất, tâm lý hoặc kinh tế.” [27] Một văn bản vô cùng quan trọng làm cơ sở cho việc xác định nội hàm của khái niệm nạn nhân của tội phạm là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản về tư pháp đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên hợp quốc ban hành ngày 29 tháng 11 năm 1985. Điều 1 của Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân hay tổ chức bị hành vi phạm tội (theo quy định của luật hình sự của các nước thành viên) xâm phạm, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tình cảm, kinh tế hoặc những thiệt hại đáng kể về các quyền cơ bản”. [32] Theo đó, nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm các cá nhân mà bao gồm cả các tổ chức.
Khoản 2 của Tuyên bố ghi nhận: “Nạn nhân của tôi phạm không chỉ bao gồm những người trực tiếp bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn bao gồm cả những người thân trong gia đình, những người phụ thuộc vào nạn nhân và cả những người chịu thiệt hại trong quá trình trợ giúp nạn nhân. Đồng quan điểm này, Bernd-Dieter Meier cho rằng, cũng được coi là những người chịu các hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra là những người thân thích của các nạn nhân của các tội phạm vũ lực, thậm chí cả những người tuy không phải người thân thích của các nạn nhân mà chỉ là những người chứng kiến sự việc phạm tội nhưng do hành vi phạm tội rất nghiêm trọng đã tác động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, tình cảm của những người này. 9 [26] Như vậy khái niệm nạn nhân không chỉ được mở rộng ra các tổ chức mà còn được mở rộng ra cả những nạn nhân gián tiếp. Việc xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả nạn nhân trực tiếp và nạn nhân gián tiếp có ý nghĩa quan trọng.
Điều đó trước hết giúp cho việc đánh giá chính xác hậu quả thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra, từ đó xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ngoài ra việc xác định nạn nhân gián tiếp còn có ý nghĩa trong việc xác định về bồi thường và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm. Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu rất đa dạng, có thể là thiệt hại về thể chất như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; thiệt hại về tâm lý như làm nạn nhân khủng hoảng, lo sợ, bất an về tinh thần; thiệt hại về kinh tế như làm nạn nhân bị mất mát tài sản… Nếu nạn nhân là tổ chức thì thiệt hại có thể là mất mát về tài sản, uy tín, thương hiệu của tổ chức bị tổn hại, việc kinh doanh của tổ chức có thể bị đình trệ… Xác định thiệt hại của các nạn nhân gián tiếp còn khó khăn hơn nhiều. Một hành vi phạm tội gây ra những thiệt hại gián tiếp phải là những hành vi phạm tội có tính chất, mức độ đặc biệt nguy hiểm và do đó có thể gây ra những ảnh hưởng, những tác động rất xấu trong xã hội.
Ví dụ: hành vi giết người bằng phương pháp tra tấn dã man hoặc giết trẻ em tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của người thân của nạn nhân, của những người chứng kiến hành vi phạm tội… Ở Việt Nam, tác giả Trần Hữu Tráng trong đề tài luận văn thạc sĩ “Nạn nhân trong tội phạm học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” xác định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra”. [18] Theo quan điểm này thì nạn nhân của tội phạm có ba đặc điểm: - Nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức; 10 - Nạn nhân của tội phạm có thể chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác; - Hậu quả thiệt hại mà nạn nhân của tội phạm phải gánh chịu phải là những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Điều đó có nghĩa giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả với nhau. Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu là hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra và ngược lại, hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại cho nạn nhân.
Như vậy nạn nhân của tội phạm hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hai đặc điểm cơ bản sau đây: - Nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hay tổ chức. Con người là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra. Nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Mỗi con người đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc cuộc sống.
Nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản. Những tổ chức bất hợp pháp không thể là nạn nhân của tội phạm vì bản thân sự tồn tại của tổ chức đó đã bất hợp pháp vì vậy không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tổ chức là nạn nhân của tội phạm phải là những tổ chức vẫn còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra. - Nạn nhân là cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu quả thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm hay tài sản.
Nạn nhân là cá nhân là những người phải chịu những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tôi gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm hay tài sản. Nạn nhân là cá nhân có thể là nạn nhân bị hành vi phạm tội trực tiếp tác động (nạn nhân trực tiếp), có thể bị hành vi phạm tội gián tiếp tác động gây 11 thiệt hại (nạn nhân gián tiếp). Tuy nhiên các thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân dù là nạn nhân trực tiếp hay nạn nhân gián tiếp đều phải là những hậu quả thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Điều đó có nghĩa là giữa hành vi phạm tội với hậu quả thiệt hại mà nạn nhân gánh chịu phải có mối quan hệ nhân quả.
Nếu không tồn tại mối quan hệ nhân quả này giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại thì không thể được coi là nạn nhân của tội phạm.