Chương 1: Một số van dé ly luận vé quyén được bao trợ xã hội của người khuyết tật Chương 2: Pháp luật quốc tế về đảm bảo quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật Chương 3: Pháp luật của các quốc gia và pháp luật Việt Nam trong đảm bảo quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật: Thực trạng và dé xuất CHUONG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE DAM BẢO QUYEN DUOC BAO TRỢ XÃ HOI CUA NGƯỜI KHUYET TAT 1. MOT SO KHAI NIEM VE QUYEN DUOC BAO TRO XA HOI VÀ DAM BAO QUYEN DUOC BAO TRỢ XÃ HỘI CUA NGƯỜI KHUYET TAT 1. Khái niệm người khuyết tật a) Định nghĩa Thuật ngữ “Người khuyết tật” là một thuật ngữ luôn có sự phát triển và có thể thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội“ Bởi một người được xem 1a khuyết tật hay không phải xem xét dựa trên sự tương tác giữa người đó với những rào cản khi họ tham gia vào xã hội, tùy vào từng hoàn cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau mà những rào cản và sự tương tác này có thê thay đôi. Trên thế giới hiện nay có 02 quan điểm chính về cách tiếp cận thuật ngữ nay, gồm: (1) Quan điểm khuyết tật cá nhân (quan điểm khuyết tật tiếp cận dưới góc độ y tế) và (2) Quan điểm khuyết tật tiếp cận dưới góc độ xã hội." Quan điểm khuyết tật tiếp cận dưới góc độ xã hội nhìn nhận người khuyết tật là người có khiếm khuyết mà do đó phải đối mặt với những khó khăn, rào cản khi tham gia vào đời sống xã hội.
Quan điểm này chủ yếu được tiếp cận bởi các tổ chức quốc tế. Tuyên bố Liên hợp quốc về quyển của người khuyết tật năm 1975 đã ghi nhận: “Người khuyết tật là bất cứ người nào mà không có khả năng tự đâm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự can thiết của một số cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh về những khả năng về thé chất hay tâm thần của họ”. Trong đó, “người khuyết tật” được thể hiện qua thuật ngữ Ÿ Điểm e Lời nói đầu, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007. * Nguyễn Hiền Phương (2021), Bình luận về quyền của người khuyết tật theo Công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoa ở Việt Nam, NXB.
Công an nhân dan, tr. 5 Š Nguyễn Hữu Chi (Chủ biên) (2011), Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB. Công an nhân dân, tr. tiếng anh là “disabled person”.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyển của người khuyết tật năm 2007 đã đưa ra khái niệm về người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dai về thé chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác ”. Trong đỏ, Công ước sử dụng thuật ngữ “persons with disabilities” (người khuyết tật). Quy định của ILO tai Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 về phục héi chức năng lao động và việc lam của người khuyết tật năm 1983: “Thudt ngữ người khuyết tật dùng dé chỉ một ca nhân mà khả năng có một việc làm phù hop, trụ lâu dai với công việc đó và thăng tiễn với nó bị giám sát đáng kê do hậu qua của một khiếm khuyết về thé chất và tâm than được thừa nhận Quan điểm khuyết tật tiếp cận đưới góc độ y tế nhìn nhận người khuyết tật là những người có hạn chế, khiếm khuyết về thé chất, tâm than. Tiêu biểu cho quan điểm nay là một số định nghĩa của Trung Quốc, An Độ.
Theo quan điểm của Trung Quốc: “Người khuyết tật là những người bị bất thường, mắt mát một cơ quan nhất định hoặc chức nang tâm li hay sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mat toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. Người khuyết tật là những người có khiếm khuyết về thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chát, chậm phát triển tâm thân, rối loạn tâm than, khuyết tật nhiễu và/hoặc khuyết tật khác ”.° Điều 2 Dao luật về người khuyết tật của An Độ năm 1995 quy định: “Người khuyết tật là người bị tật ít nhất 40% được cơ quan y tế chứng nhận ”. Trong đó, “khuyết tật” bao gồm: “mu; khiếm thính; khuyết tật về vận động; chậm phát triển tâm thần; bị bệnh tâm thần”.” Š Điều 2 Pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trưng Hoa về bảo vệ người khuyết tật (Thông qua tại Hội nghị lần thứ 17 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nhân dân toàn quốc Khóa VII ngày 28 tháng 12 năm 1990 và ban hành theo Lệnh sô 36 của Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 28 tháng 12 năm 1990). 7 Đạo luật về người khuyết tật (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyên và sự thực thi đầy đủ), ban hành tại Phần TI, Mục 1 Công bé đặc biệt của Cục Lập pháp, Bộ Pháp luật và Công bằng An Độ (được Tổng thông An Độ thông qua ngày 01 thang 01 năm 1996), https:/Avww.in/documents/PWD%20ACT pdf 10 WHO - với tư cách là một co quan y tế công cộng — đã tiếp cận “người khuyết tật” từ góc độ y tế công cộng.
Khác với CRPD, WHO lại sử dụng thuật ngữ “people with disability” thay cho thuật ngữ “persons with disabilities”. Sử dung tir “disability” thay cho “disabilities” vi WHO quan niệm rang khuyét tat là trải nghiệm phổ biến, van dé của nó nằm ở mức độ chứ không nằm ở đặc điểm cá nhân của con người. Thuật ngữ “disabilities” thé hiện cách tiếp cận “khuyết tật” là một tình trạng sức khỏe cụ thé chứ không phải là một cách tiếp cận bao quát.” Từ “people” thường được dùng dé chỉ một cộng đồng, một nhóm người, “persons” dùng đề chỉ những người, những cá nhân riêng biệt.” Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật của Việt Nam năm 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phán cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dang tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khan”. Theo tác giả, cần tiếp cận định nghĩa “người khuyết tật” theo cả hai góc độ, vừa xem xét người khuyết tật dưới góc độ là những cá nhân có hạn chế, khiếm khuyết về thê chất, cảm giác, trí tuệ, vừa xem xét dưới góc độ những rao cản do yếu tô xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vao các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, từ đó, cần để cao, bảo đảm quyển của họ như các quyền co bản của con người khi tham gia vào đời sống xã hội.
Với cách tiếp cận trên, tác giả nhất trí với định nghĩa “người khuyết tat” theo Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiễu bộ phán cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng ké và lâu dai trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thé khác ”.int/news-room/questions-and-answers/item/people-with-disability-vs-persons-with- disabilities ° Theo Từ điển Cambridge, https://dictionary.org/vi/dictionary/english/people, truy cập ngay 08/03/2024. 1° Nguyễn Hữu Chi, tđd, tr. 11 b) Đặc điểm Từ khái niệm về nguoi khuyét tật có thé rút ra một số đặc điểm của người khuyết tật như sau: Thứ nhất, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết về thể chất, tâm thần. Những khiếm khuyết đó được biểu hiện dưới nhiều dang va mức độ khác nhau.
Một số dạng khuyết tật phổ biến như sau: khuyết tật nhìn (hay còn gọi là khiếm thị), khuyết tật nghe (hay còn gọi là khiếm thính), khuyết tật trí tuệ, khuyết tật ngôn ngữ, khuyết tật vận động. Những khiếm khuyết đó phải liên tục và kéo dai trong một khoảng thời gian nhất định, bởi đối với những khiếm khuyết mang tinh chất tạm thời, chi trong thời gian ngắn hầu như không tạo ra những rao cản xã hội, không ảnh hưởng đến đời sống xã hội của người khuyết tật. Người khiếm thính là những người bi mat hoặc suy giảm kha năng nghe kéo theo những hạn chế vé phát triển ngôn ngữ và kha năng giao tiếp. Người khiếm thính cần có sự hỗ trợ của phương tiện trợ giúp (máy trợ thính), ngôn ngữ ký hiệu dùng trong giao tiếp.
'" Người khiếm thị là người có tật về mắt làm cho họ không nhìn thay hoặc nhìn không rõ rang. !ˆ Khiếm thị có thể xuất hiện cùng với các bệnh như chậm phát triển tinh thần, rối loạn phổ tự kỷ, bại não, giảm thính giác và động kinh.'Ỷ Người khuyết tật trí tuệ là những người có chi số IQ (“Intelligent Quotient” — chỉ số thông minh) dưới 70, bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết it nhất hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe, an toàn.! 1! Trân Ngọc Giao, Lê Văn Mạc (2010), Quản lý giáo dục hòa nhập, NXB Phụ nữ, tr. te' Nguyễn Đức Hoang (2013), Chê độ bảo tro xã hội đối với người khuyết tật- Những van dé lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, tr.org/web/20100612060146/http://www.org/about-low-v1sion- blindness/causes-of-blindness/, truy cập ngày 08/03/2024 1 Nguyễn Hiền Phương, tldd, tr. 12 Người khuyết tật ngôn ngữ là những người có khó khăn đáng kể về nói (hoặc về đọc viết), làm ảnh hưởng đến việc phát âm và giao tiếp.” Người khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện là khó khăn trong khi di chuyên, ngôi, nằm, cầm, nắm.!“Do đó, cần được hỗ trợ về phương tiện đi lại như xe lăn, gậy,.
và đặc biệt là không gian di chuyền. Thứ hai, xuất hiện những hạn chế, rao cản khi nguoi khuyét tat tham gia vao doi sống xã hội. Nếu chỉ dừng lại ở việc bị khiếm khuyết về thé chat va tâm than thi vẫn chưa phải là người khuyết tật, bởi nêu môi trường sống, học tập. làm việc được đảm bảo, cơ sở vật chất được trang bị đây đủ dành cho họ thì những người khuyết tật vẫn có thé sống, học tập, làm việc như những người bình thường.
Ngoài những khiếm khuyết của ban thân, rao can xã hội cũng là nguyên nhân dé xác định đó là người khuyết tật. Có các rao cản chính như sau: Rào cản về nhận thức: Đây là rào cản ảnh hưởng lớn nhất đến việc người khuyết tật tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội.