Chương 1: Một số vấn dé lý luận về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật và pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật và thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRỢ GIÚP XA HỘI DOI VOI NGUOI KHUYET TAT VA PHAP LUAT VE TRO GIUP XA HOI DOI VOI NGUOI KHUYET TAT 1.
Một số van dé lý luận về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 1. Khái niệm Ngày nay, khái niệm về người khuyết tật đang là nguồn gây tranh cãi lớn, không thống nhất trên phạm vi quốc tế. Quan niệm về người khuyết tật giữa các quốc gia trên thế giới cơ bản giống nhau về bản chat vấn đề nhưng cách diễn đạt không giống nhau. Dưới góc độ khuyết tật cá nhân, Luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa có quy định về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 có ghi nhận: “Người khuyết tật là một trong những người bi bat thường, mat mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh học.” hay tại Luật người khuyết tật An Độ năm 1995 có định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong, thị lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí óc.
Dưới góc độ khuyết tật xã hội, khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 ILO về phục hồi chức năng lao động, việc làm của người khuyết tật năm 1983 có quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiễn với nó bị giảm sút đáng ké do hậu quả của một khiếm khuyết về thé chất và tâm thần được thừa nhận”. Điều 1 Công ước về quyền người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: “Người khuyết tật bao gôm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thân, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và tron vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đăng với những người khác”. So với các nước trên thế giới, khái niệm người khuyết của Việt Nam năm trong nhóm theo quan điểm khuyết tật xã hội. Trước đây, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Pháp lệnh về người tan tat năm 1998 sử dụng thuật ngữ người tàn tật.
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, ngày 17/06/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật, có hiệu lực 01/01/2011 chính thức sử dụng khái niệm người khuyết tật thay thế cho khái niệm người tàn tật, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về van đề khuyết tat. Khái niệm người khuyết tật trong Luật người khuyết tật năm 2010 được quy định tại Khoản 1 Điều 2 như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm trên tương đối phù hợp với quan điểm tiễn bộ của thế giới, tuy nhiên vẫn còn khá chung chung so với khái niệm trong các Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam là thành viên. Có thé đưa ra khái niệm chung nhất về NKT như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thé hoặc bị Suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dai trong việc tham gia cua người khuyét tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đăng VỚI những chủ thể khác.
Tóm lại, khái niệm về người khuyết tật dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào cũng đều phải đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sông xã hội như bất cứ công dân khác với tư cách là các quyền của con người. Việc đưa ra định nghĩa về người khuyết tật là căn cứ dé xác định mức độ khuyết tật và quy định các chế độ trợ cấp dành cho bản thân họ. Đặc điểm của người khuyết tật Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe của con người: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Sức khỏe của NKT là tình trạng ồn định toàn diện về thé chat, tâm thần, xã hội.
Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe của NKT cần quan tâm hợp lý đến cả ba mặt: Sức khỏe thé chất, sức khỏe tâm than và sức khỏe xã hội. Điều này đã được chứng minh trong các công ước của WHO cũng như pháp luật các nước. Việt Nam đã đặt ra năm quan điểm cơ bản, chủ yếu chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe con người, trong đó có NKT, chăm sóc sức khỏe NKT bao gồm chăm sóc y tế, chăm sóc ngoài y tế. Sự chăm sóc này được hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các yếu tổ môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống.) với yếu tổ môi trường bên trong (di truyền, gen.); giữa các hoạt động đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật đến việc điều trị kip thời, phục hồi sức khỏe cho NKT.
Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, dịch vụ công cộng, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội. Những khó khăn càng trở nên tram trong hon do thai d6 tiéu cực của cộng đồng đối với NKT. Đây là một trong những nhóm dân cư chịu thiệt thòi nhất trong xã hội hiện nay, khi hoạt động sinh sống hòa nhập xã hội họ gặp phải rất nhiều những khó khăn và cản trở. Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang đây mạnh sự quan tâm hỗ trợ NKT có được cuộc sống tốt hơn về cả vật chất lẫn tinh thần nhằm đảm bảo công bằng, vì con người và phát trién bền vững quốc gia.
Mặc dù vậy thực tế van còn những van đề mà NKT đang gặp phải, đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc hoặc chưa có điêu kiện, kha năng tiêp cập, hiéu biệt vê những chính sách 11 ưu đãi dành cho họ., dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế. Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật Cũng giống như mọi thành viên khác trong xã hội, đối tượng người khuyết tat cũng được hưởng các quyên lợi ích cơ bản của một công dân và phải có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ thực hiện. Quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: - Tham gia bình đăng vào các hoạt động xã hội: Người khuyết tật được tham gia vào tất cả các hoạt động cộng đồng trong xã hội nếu đủ khả năng về sức khỏe, được tham gia học tập, lao động trong trường hợp đáp ứng đủ các yêu cầu đề thực hiện các hoạt động này. Các đối tượng khác khi tham gia vào các hoạt động xã hội không được phân biệt đối xử với người khuyết tật.
- Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghé, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật: Người khuyết tật được điều trị theo bảo hiểm y tế tại cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở y tế, được miễn, giảm học phí khi học văn hóa, học nghề, được đảm bảo hỗ trợ khi làm việc, lao động. Đồng thời, khi được trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ, người khuyết tật cũng được hỗ trợ về mức phí dịch vụ, chế độ ưu tiên về chỗ ngôi và nhiều ưu đãi khác. - Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng: Người khuyết tật có thé không cần su trợ giup từ cộng đồng, có thé tham gia mọi hoạt động trong xã hội nếu đủ sức khỏe. Bản thân người khuyết tật có thê tự lao động, làm việc, kiếm thêm thu nhập để có thể sống độc lập, hòa nhập với cộng đồng như mọi công dân bình thường khác.
12 - Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội: Người khuyết tật thuộc nhóm người được bảo trợ xã hội, được miễn, giảm đóng góp cho các hoạt động cộng đồng do là nhóm người yếu thế, được hưởng chính sách xã hội phù hợp để khuyến khích lao động, học tập, làm việc, giảm thiểu các gánh nặng về tài chính đối với các đối tượng này. Song song với các quyền mà người khuyết tật được hưởng, họ cũng có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và thực hiện các nghĩa vụ của một công dân Việt Nam khi mang quốc tịch Việt Nam. Cơ sở lý luận của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ¢ Khái niệm trợ giúp xã hội: Trợ giúp xã hội có những nội dung và hình thức ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất khó khăn nhiều hay ít, tạm thời hay lâu dài, hoàn cảnh bản thân và gia đình họ gia nhập quan hệ nào của trợ giúp xã hội.
Có thê hiểu đơn giản đó sự giúp đỡ thêm bang tiền, hoặc các điều kiện sinh song thích hợp dé đối tượng được giúp đỡ có thé phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc gia đình, sớm hòa nhập với cộng đồng. Như vậy, đối tượng trợ giúp xã hội là mọi người dân không có sự phân biệt theo tiêu chí nào khi gặp phải những rủi ro biến cố cần sự giúp đỡ. Không đặt ra nghĩa vụ đóng góp tài chính cho việc thụ hưởng các khoản trợ cấp xã hội, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo từ tài chính công để chi trả cho đối tượng.