Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người 1. Quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các đặc trưng Nhà nước pháp quyền là thành tựu của nền văn minh nhân loại trong tiến trình phát triển xã hội loài người. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền được hình thành từ lâu trong lịch sử và ngày càng hoàn thiện như một phương thức tổ chức Nhà nước mà trong đó: 1/ Quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân, 2/ Các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công thực hiện rõ ràng, 3/ Pháp luật là tối thượng, 4/ Dân chủ được thực hiện, 5/ Quyền con người được tôn trọng và 6/ Các cam kết quốc tế được Nhà nước đảm bảo thực hiện v.
Cho đến nay, ở nước ta chưa có một khái niệm thống nhất về Nhà nước pháp quyền. Nhưng qua các công trình mà chúng tôi nghiên cứu thì các học giả đều có chung quan điểm đó là một cách tổ chức quyền lực Nhà nước, chứ không phải là một kiểu Nhà nước. Khác với Nhà nước thần quyền, Nhà nước độc tài, chuyên chế, Nhà nước pháp quyền đề cao dân chủ, coi trọng pháp luật và phân công thực hiện quyền lực (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp) trong Nhà nước. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người luôn luôn được coi trọng; pháp luật quy định đầy đủ về quyền con người và được bảo đảm thực hiện trong thực tế.
Từ góc độ đó, mặc dù không phải là một kiểu Nhà nước, nhưng Nhà nước pháp quyền thể hiện đầy đủ, cụ thể trong các kiểu Nhà nước tiến bộ như Nhà nước dân chủ tư sản hiện đại, Nhà nước xã hội chủ nghĩa… Vì vậy, có thể nói, tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, nhưng khái niệm đầy đủ về Nhà nước pháp quyền mới được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ khi Nhà nước tư sản ra đời [33, tr. - 10 - Ở nước ta, tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã có từ lâu. Nghiên cứu các bản Hiến pháp nước ta từ trước tới nay (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) cho thấy các yếu tố đặc trưng của Nhà nước pháp quyền đã được hình thành. Các bản Hiến pháp ở mức độ này hay mức độ khác đều khẳng định quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Tuy nhiên, do máy móc, duy ý chí trong nhận thức, hạn chế trong tiếp thu các thành tựu tiến bộ từ bên ngoài, cho rằng Nhà nước pháp quyền, thuyết tam quyền phân lập, quá coi trọng pháp trị mà coi thường đức trị là các quan niệm, giá trị gắn liền với Nhà nước tư sản, với dân chủ tư sản… nên khái niệm Nhà nước pháp quyền không được sử dụng ở nước ta.
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện các mặt đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), trong đó có việc đổi mới tư duy lý luận, chống duy ý chí trong lý luận, nhận thức… thì quan niệm về Nhà nước pháp quyền đã dần dần được ghi nhận, hình thành và phát triển. Khái niệm Nhà nước pháp quyền được một số nhà nghiên cứu đưa ra trong quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, đặc biệt là trong khi dự thảo bản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nhưng ý kiến đó chưa được chấp nhận. Có thể nói, khái niệm Nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được đồng chí nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đề cập trong bài phát biểu tại Hội nghị tập huấn ngành tư pháp toàn quốc năm 1992 và sau đó là tại kỳ họp Quốc hội khóa VIII thông qua Hiến pháp năm 1992. Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền chính thức được ghi nhận lần đầu tiên tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân”; và trong các văn kiện Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng, tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đều đã được khẳng định [24, tr.
- 11 - Như vậy, từ Đại hội lần thứ VII của Đảng, cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới toàn diện các mặt đời sống xã hội, Đảng ta đã khẳng định một cách dứt khóat việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta. Đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nhà nước pháp quyền chung nhưng cũng mang những nét đặc trưng riêng của kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Quan điểm trên của Đảng đã được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước ta. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung tại mục 2 điều 1 Nghị quyết số: 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992) quy định như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân.
Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân… Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện sự đổi mới tư duy lý luận ở nước ta trong công cuộc đổi mới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền. Trong các công trình đó, các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền được phân tích tương đối cụ thể.
TSKH Nguyễn Duy Quý thì Nhà nước pháp quyền có các dấu hiệu cơ bản là: tính tối cao của luật; sự phân công và phối hợp thực hiện các quyền lực công cộng lập pháp, hành pháp và tư pháp; dân chủ trong hoạt động của Nhà nước; bảo đảm quyền con người; tuân thủ các hiệp ước và luật pháp quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập [52, tr. Trần Ngọc Đường thì cho rằng các tư tưởng chính của Nhà nước pháp quyền là: Luật có hiệu lực và hiệu quả cao nhất; quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân định rõ ràng ba chức năng cơ bản là lập pháp, hành pháp và tư pháp; con người được đặt vào vị trí trung tâm, là mục tiêu và là giá trị cao nhất; quan hệ quốc tế được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế mà Nhà nước tham gia ký kết hoặc gia nhập [28, tr. Tường Duy Kiên cho rằng Nhà nước pháp quyền có các đặc trưng chung là: Tính hợp pháp của nền cai trị; tính độc lập và hoạt động hiệu quả của cơ quan tư pháp, bình đẳng của công dân trước pháp luật; tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật; phân định rõ ràng quyền lực Nhà nước giữa ba chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp; tôn trọng nhân quyền, trước hết là quyền chính trị và dân sự; thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế [42, tr. Trong các giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền được chỉ ra là: vai trò tối cao của pháp luật; bảo đảm quyền con người; quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân; bảo đảm sự thống nhất và phân công hợp lý giữa ba nhánh quyền lực là lập pháp, hành pháp và tư pháp; tư pháp độc lập và có hiệu quả; tôn trọng các điều ước quốc tế mà Nhà nước ký kết hoặc gia nhập [21, tr.
Các đặc trưng chung nêu trên cũng được các nhà khoa học nước ngoài đề cập và phân tích trong các công trình khoa học của mình. Hager, Nhà nước pháp quyền có các đặc điểm chính là: 1/ Tính tối thượng của Hiến pháp, 2/ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, 3/ Nền tư pháp độc lập, 4/ Quyền con người được bảo vệ…[65]. Các nhà khoa học Liên bang Nga, một quốc gia cũng chỉ mới đề cập đến khái niệm Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong những năm gần đây cũng đề cập nhiều đến vấn đề Nhà nước pháp quyền trong các công trình của mình [14, tr. Như vậy, việc nghiên cứu cho thấy rằng dù cách thể hiện có khác nhau, nhưng các tác giả trong cũng như ngoài nước đều tương đối thống nhất trong quan niệm về Nhà nước pháp quyền và các đặc trưng chung của nó.
Trong số các điểm đặc trưng chung, các yếu tố như tính tối cao của pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp; bảo đảm bình đẳng trong quan hệ Nhà nước và công dân; phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tôn trọng và bảo đảm quyền con người và tôn trọng các điều ước quốc tế mà Nhà nước ký kết hoặc gia nhập được các nhà khoa học thống nhất không chỉ về vai trò của nó mà cả trong nội dung của các yếu tố đặc trưng đó. Dù là Nhà nước pháp quyền kiểu nào (Nhà nước tư sản hay Nhà nước xã - 13 - hội chủ nghĩa) thì các yếu tố đặc trưng trên cũng là cơ bản và phải được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của từng nước như bản chất Nhà nước, mức độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ dân trí cũng như truyền thống về tổ chức Nhà nước, truyền thống về đạo đức, lối sống… của mỗi quốc gia mà mức độ thể hiện yếu tố này hay yếu tố khác có thể đậm nhạt khác nhau. Các quyền con người trong Nhà nước pháp quyền Quan niệm về quyền con người, trong lịch sử chính trị - tư tưởng của nhân loại, thuật ngữ quyền con người (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất.
Ngay từ thời cổ đại đã có sự bàn luận về các quyền. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các nhà tư tưởng bàn đến như một học thuyết. - Quan niệm thứ nhất, cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên.