Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học được phân tích là Luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài "Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam", do nghiên cứu sinh Lại Văn Trình thực hiện tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (năm 2011), chuyên ngành Luật hình sự, mã số chuyên ngành 62 38 40 01, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Độ.

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    THÔNG TIN TỔNG QUAN LUẬN ÁN                                     |
+--------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu đề luận án          | Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong      |
|                          | tố tụng hình sự Việt Nam                                                |
| Tác giả                  | Lại Văn Trình                                                           |
| Người hướng dẫn khoa học | PGS.TS Trần Văn Độ                                                      |
| Cơ sở đào tạo            | Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh                                     |
| Chuyên ngành & Mã số     | Luật hình sự - Mã số: 62 38 40 01                                       |
| Năm bảo vệ               | 2011                                                                    |
| Phạm vi khảo sát thực tế | Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử giai đoạn 2004 - 2009               |
+--------------------------+-------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo đảm quyền con người là nội dung cốt lõi và mục tiêu xuyên suốt của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Quan điểm này được khẳng định rõ nét trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.

Tố tụng hình sự (TTHS) là lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, nơi các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được áp dụng phổ biến. Do đó, các chủ thể tham gia tố tụng—đặc biệt là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo—là những người có nguy cơ cao nhất bị xâm phạm các quyền tự do dân chủ, quyền thân thể, danh dự và nhân phẩm. Thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2004–2009 cho thấy vẫn tồn tại nhiều sai phạm, oan sai, bức cung, dùng nhục hình xuất phát từ sự bất cập của hệ thống quy phạm, nhận thức hạn chế và chế độ trách nhiệm chưa nghiêm của người tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và đồng bộ cơ chế lý luận cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người của 3 chủ thể này là một yêu cầu cấp bách.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự tại Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập; từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong thực tiễn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
    1. Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm; làm rõ những điểm chung và đòi hỏi đặc thù trong từng giai đoạn tố tụng.
    2. Phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến bảo đảm quyền con người; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
    3. Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
    4. Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoạt động tố tụng thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
  • Phạm vi văn bản: Tập trung vào Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  • Phạm vi thời gian và thực tiễn: Khảo sát thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng từ năm 2004 đến năm 2009 tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước thành 4 nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu Các tác giả và công trình tiêu biểu Phạm vi tiếp cận và hạn chế so với luận án
Bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền Hoàng Văn Hảo & Phạm Ích Khiêm; Đỗ Trung Hiếu; Nguyễn Văn Vĩnh; Trần Ngọc Đường; Tường Duy Kiên; Đinh Văn Mậu; Lê Văn Cảm. Tiếp cận dưới góc độ triết học, chính trị học hoặc lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật; chưa đi sâu vào cơ chế đặc thù của tố tụng hình sự.
Quyền con người trong tư pháp và tư pháp hình sự Luận án TS Nguyễn Huy Hoàng; GS.TSKH Lê Văn Cảm; Đề tài cấp ĐHQG do Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì; PGS. Nguyễn Thái Phúc; Luận án TS Nguyễn Quang Hiền; TS. Trần Quang Tiệp; PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng; PGS. Hoàng Thị Sơn & TS. Bùi Kiên Điện. Nghiên cứu diện rộng trên toàn bộ hoạt động tư pháp (dân sự, hình sự) hoặc phân chia theo giai đoạn tố tụng chung chung; việc nghiên cứu quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ mang tính sơ lược.
Nghiên cứu chuyên sâu quyền hoặc chế định cụ thể Về quyền bào chữa: Phạm Hồng Hải, Nguyễn Văn Tuân, Hoàng Thị Sơn, Phan Trung Hoài. Về biện pháp ngăn chặn: Trần Quang Tiệp, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Mai Bộ. Về nguyên tắc tố tụng: Nguyễn Thái Phúc, Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện. Đi sâu vào từng quyền năng riêng biệt (bào chữa) hoặc một chế định cụ thể (biện pháp ngăn chặn), chưa đặt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tổng thể toàn diện các chế định TTHS.
Tài liệu học thuật quốc tế M. Hager (The Rule of law); Neil Andrews (Principle of Criminal procedure); K. Lidstone (Human rights in criminal procedure); Stephanos Stavros (The guarantees for accused persons under Article 6 of the European Convention on Human Rights). Cung cấp chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài nhưng không gắn liền với bối cảnh thể chế chính trị - pháp lý của Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào tiếp cận toàn diện, hệ thống và đồng bộ về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc trích dẫn quy định thực định và so sánh thực tiễn đơn lẻ, thiếu một khung lý luận hoàn chỉnh để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đồng bộ từ góc độ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ quyền con người và nguyên tắc "cán bộ là người đầy tớ của nhân dân"; các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Học thuyết Nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ dựa trên tính tối cao của pháp luật, sự phân công và phối hợp giữa ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp), tính độc lập của tư pháp và sự bình đẳng giữa Nhà nước và công dân.
  • Quan niệm về Quyền con người: Quyền con người mang 3 thuộc tính cơ bản:
    1. Gắn liền với cá nhân đồng thời phản ánh lợi ích cộng đồng, quốc gia.
    2. Được thể chế hóa thành các quyền năng pháp lý phổ quát, bình đẳng cho mọi người.
    3. Vừa là thuộc tính tự nhiên, vừa là giá trị lịch sử - xã hội được ghi nhận qua pháp luật quốc gia và quốc tế.
  • Mối quan hệ Quyền con người và Quyền công dân: Quyền con người là khái niệm rộng hơn, bao hàm quyền công dân. Quyền công dân là sự thể chế hóa quyền con người trong phạm vi không gian pháp lý của một quốc gia cụ thể.
  • Khung phân tích hai phương diện bảo đảm (tiếp thu luận điểm của TS. Nguyễn Duy Hưng): Luận án phân tách cơ chế bảo đảm thành:
    • Bảo đảm các quyền công dân chung (các quyền hiến định không bị tước bỏ).
    • Bảo đảm quyền tố tụng đặc thù (các công cụ pháp lý để tự bảo vệ trước sự nghi ngờ phạm tội và buộc tội).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu định tính pháp lý kết hợp khảo sát thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để giải mổ các quy phạm của Hiến pháp 1992, BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 và văn bản dưới luật.
  • Phương pháp lịch sử - pháp lý: So sánh tiến trình lập pháp TTHS qua các thời kỳ để thấy được sự phát triển trong tư duy bảo đảm quyền con người.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định trong nước với 8 công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia (như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị - ICCPR, Quy chế Rome...).
  • Phương pháp khảo sát hồ sơ và thống kê thực tế: Thu thập dữ liệu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử từ các cơ quan tiến hành tố tụng tại một số địa phương trong giai đoạn 2004–2009.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền và trong tố tụng hình sự

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận xuyên suốt của luận án, gồm 2 nội dung lớn:

1. Nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người

  • Đặc trưng Nhà nước pháp quyền: Phân tích 6 đặc trưng nền tảng qua quan điểm của các học giả (Nguyễn Duy Quý, Trần Ngọc Đường, Tường Duy Kiên, Đinh Văn Mậu, M. Hager).
  • Lịch sử ghi nhận tại Việt Nam: Khái niệm "Nhà nước pháp quyền" lần đầu tiên được Đảng chính thức khẳng định tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) và thể chế hóa tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001).
  • Phân loại quyền con người: Chia thành quyền chính trị, quyền dân sự, quyền kinh tế - văn hóa - xã hội; và phân loại theo thứ bậc thành quyền cơ bản (quyền hiến định tại Chương V Hiến pháp 1992) và quyền pháp lý khác (trong các luật chuyên ngành).
  • Hệ thống 5 nhóm biện pháp bảo đảm chung trong Nhà nước pháp quyền:
    1. Biện pháp trong hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật (thực hiện nguyên tắc "công dân được làm những gì pháp luật không cấm", "cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật quy định").
    2. Biện pháp về chế độ trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức.
    3. Biện pháp xử lý vi phạm quyền con người (bằng kỷ luật, hành chính, tư pháp và bồi thường).
    4. Biện pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
    5. Biện pháp thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội.

2. Vấn đề lý luận bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

Luận án đi sâu phân tích và xác lập địa vị pháp lý độc lập của 3 chủ thể:

+---------------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                    SO SÁNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ VÀ BẢN CHẤT QUYỀN CỦA 3 CHỦ THỂ TRONG TTHS                    |
+----------------------+--------------------------+---------------------------+---------------------------+
| Tiêu chí             | Người bị tạm giữ (Đ. 48) | Bị can (Đ. 49)            | Bị cáo (Đ. 50)            |
+----------------------+--------------------------+---------------------------+---------------------------+
| Tình trạng pháp lý   | Bị nghi thực hiện tội    | Bị khởi tố về hình sự;    | Bị Tòa án quyết định đưa  |
|                      | phạm (bắt khẩn cấp, quả  | chính thức bị truy cứu    | ra xét xử; chính thức bị  |
|                      | tang, truy nã, tự thú)   | TNHS, bị buộc tội         | buộc tội tại Tòa          |
| Bản chất quyền       | Quyền bảo vệ quyền và    | Quyền bào chữa (tự mình   | Quyền bào chữa (tự mình   |
| bảo vệ               | lợi ích hợp pháp (chưa có| hoặc nhờ người khác bào   | hoặc nhờ người khác bào   |
|                      | quyền bào chữa TTHS)     | chữa, gỡ tội)             | chữa, tranh tụng)         |
| Biện pháp cưỡng chế  | Tạm giữ (tối đa 9 ngày); | Tạm giam, cấm đi khỏi nơi | Tạm giam, cấm đi khỏi nơi |
| áp dụng              | lấy lời khai             | cư trú, kê biên; hỏi cung | cư trú; thẩm vấn tại Tòa  |
| Môi trường tố tụng & | Môi trường đóng kín;     | Môi trường đóng kín; nguy | Phiên tòa công khai, dân  |
| nguy cơ xâm hại      | nguy cơ bị xâm hại cao   | cơ bức cung, nhục hình cao| chủ; ít nguy cơ lạm quyền |
+----------------------+--------------------------+---------------------------+---------------------------+
  • Vấn đề lý luận về quyền bào chữa: Luận án chỉ ra rằng trong TTHS, chức năng bào chữa chỉ phát sinh khi đã có sự buộc tội chính thức. Người bị tạm giữ mới chỉ là người bị nghi thực hiện tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nên về mặt lý luận chưa có quyền bào chữa theo nghĩa tố tụng hình sự mà là quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
  • Bất cập trong thủ tục phê chuẩn tạm giữ: Luận án phát hiện mâu thuẫn kỹ thuật pháp lý trong BLTTHS 2003: quyết định tạm giữ ban đầu (xác định tính có căn cứ) không cần Viện kiểm sát phê chuẩn, nhưng quyết định gia hạn tạm giữ (chỉ xét sự cần thiết) lại bắt buộc phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Đồng thời, luật không quy định gửi kèm hồ sơ khi gửi quyết định tạm giữ khiến Viện kiểm sát không có cơ sở kiểm sát tính có căn cứ ngay từ đầu.
  • Nội dung bảo đảm trong TTHS: Luận án hệ thống hóa 7 nhóm quy định cốt lõi cần hoàn thiện: các nguyên tắc cơ bản (Điều 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 18, 19, 29, 30, 31 BLTTHS 2003); địa vị pháp lý; chế định chứng cứ và chứng minh; quy định về biện pháp cưỡng chế/ngăn chặn; thủ tục tố tụng dân chủ; kiểm sát và giám sát; chế độ trách nhiệm bồi thường oan sai.

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế

Nội dung chương 2 gồm 3 tiểu mục chính:

  1. Thực trạng quy định pháp luật TTHS Việt Nam: Đánh giá chi tiết các quy định trong BLTTHS 2003 so với BLTTHS 1988. Chỉ ra các điểm thiếu đồng bộ về thời hạn tạm giam, căn cứ bắt khẩn cấp, thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa, và sự thiếu vắng các quy định cụ thể về trách nhiệm giải thích quyền của cơ quan tiến hành tố tụng.
  2. Thực trạng trong hoạt động tố tụng hình sự thực tiễn (giai đoạn 2004 - 2009): Phân tích dữ liệu thực tiễn từ trang 78 của luận án, chỉ ra các vi phạm phổ biến:
    • Lạm dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam thay cho các biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn.
    • Hiện tượng bức cung, dùng nhục hình, ép cung trong quá trình điều tra nhằm thu thập lời nhận tội.
    • Gây khó khăn, cản trở luật sư tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra.
    • Tình trạng án oan sai và sự chậm trễ, phức tạp trong quy trình bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự cho người bị oan.
  3. Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự quốc tế (trang 101): Phân tích các chuẩn mực pháp lý quốc tế về quyền im lặng, quyền không bị buộc phải tự buộc tội, quyền tiếp cận người bào chữa ngay từ thời điểm bị bắt, và nguyên tắc suy đoán vô tội theo tinh thần Điều 14 Công ước ICCPR và Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền.

Chương 3: Một số kiến nghị tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 3 đề xuất 2 nhóm giải pháp lớn (từ trang 158):

  1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Bổ sung và cụ thể hóa nguyên tắc suy đoán vô tội, ghi nhận quyền không buộc phải khai báo chống lại chính mình (quyền im lặng).
    • Sửa đổi quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam; khắc phục mâu thuẫn trong việc phê chuẩn quyết định tạm giữ của Viện kiểm sát.
    • Mở rộng quyền và dỡ bỏ các rào cản hành chính đối với người bào chữa, cho phép người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn và bình đẳng trong việc thu thập chứng cứ.
    • Minh định hóa thủ tục bồi thường oan sai và chế độ trách nhiệm bồi hoàn của người tiến hành tố tụng vi phạm.
  2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự:
    • Đổi mới tư duy và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; chuyển từ tư duy coi trọng quyền lực sang tư duy phục vụ và tôn trọng quyền con người.
    • Tăng cường cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật ghi âm, ghi hình khi hỏi cung để ngăn chặn bức cung, nhục hình.
    • Cải cách tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW, nâng cao vị thế độc lập của Tòa án và tranh tụng tại phiên tòa.
    • Mở rộng vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và tăng cường hiệu lực giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 3 nhóm đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về lý luận: Làm rõ nội hàm khái niệm và cơ chế bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền XHCN đối với các chủ thể đặc biệt; phân định ranh giới lý luận quan trọng giữa quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị nghi thực hiện tội phạm (người bị tạm giữ) và quyền bào chữa của người bị buộc tội (bị can, bị cáo); hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm quyền công dân chung và quyền tố tụng.
  2. Về thực tiễn: Phân tích có hệ thống các quy định của BLTTHS 2003, chỉ ra những mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp (như chế định phê chuẩn tạm giữ/gia hạn tạm giữ); đánh giá toàn diện thực trạng vi phạm quyền con người trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử giai đoạn 2004–2009 cùng các nguyên nhân cốt lõi.
  3. Về kiến nghị: Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ sửa đổi BLTTHS và các giải pháp tổ chức thi hành nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người, hài hòa hóa pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với các chuẩn mực pháp luật quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện năm 2011, do đó phạm vi khảo sát thực tiễn dừng lại ở giai đoạn 2004–2009 và căn cứ lập pháp dựa trên Hiến pháp 1992, BLTTHS 2003 (chưa bao gồm các thay đổi căn bản của Hiến pháp 2013 và BLTTHS 2015). Ngoài ra, nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào 3 chủ thể trung tâm nên chưa mở rộng đầy đủ sang các chủ thể tố tụng khác như người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá cơ chế bảo đảm quyền con người của người chấp hành án trong giai đoạn thi hành án hình sự.
    • Nghiên cứu mở rộng việc bảo vệ quyền con người đối với các nhóm đối tượng đặc thù (người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất/tâm thần) hoặc pháp nhân thương mại trong tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và các ban soạn thảo: Tham khảo các luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi BLTTHS và các đạo luật tư pháp.
  • Cơ quan và người tiến hành tố tụng: Giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận diện rõ ranh giới pháp lý, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền con người trong quá trình bắt, giam giữ, hỏi cung và xét xử.
  • Đội ngũ luật sư: Bổ sung cơ sở lý luận để thực hiện hiệu quả chức năng bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ giảng dạy môn Luật Tố tụng hình sự, Tư pháp hình sự và Quyền con người cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt quyền của "người bị tạm giữ" và "bị can, bị cáo" về mặt lý luận như thế nào?

Theo luận án, người bị tạm giữ mới chỉ là người bị nghi thực hiện tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa bị buộc tội chính thức. Vì chức năng bào chữa chỉ xuất hiện khi có sự buộc tội, nên người bị tạm giữ chưa có quyền bào chữa theo cơ chế TTHS mà có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Ngược lại, bị can và bị cáo là những người đã chính thức bị khởi tố, bị buộc tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên họ có đầy đủ quyền bào chữa để gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

2. Luận án chỉ ra bất cập kỹ thuật lập pháp nổi bật nào trong chế định tạm giữ theo BLTTHS 2003?

Luận án chỉ ra điểm mâu thuẫn: quyết định tạm giữ ban đầu (quyết định gốc nhằm xác định tính có căn cứ và sự cần thiết) không cần Viện kiểm sát phê chuẩn, trong khi quyết định gia hạn tạm giữ (chỉ xét sự cần thiết) lại bắt buộc phải có Viện kiểm sát phê chuẩn. Ngoài ra, BLTTHS không quy định phải gửi tài liệu chứng minh kèm theo quyết định tạm giữ sang Viện kiểm sát, dẫn đến việc Viện kiểm sát không có đủ cơ sở thực tế để hủy bỏ các quyết định tạm giữ sai ngay từ đầu.

3. Vì sao luận án nhận định bị cáo ít có nguy cơ bị xâm phạm quyền con người hơn bị can?

Bị can tham gia tố tụng trong môi trường điều tra tương đối đóng kín, chủ yếu chỉ tiếp xúc với người tiến hành tố tụng thuộc cơ quan buộc tội nên dễ phát sinh bức cung, nhục hình. Trong khi đó, bị cáo tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử theo cơ chế hoàn chỉnh, công khai, dân chủ, bình đẳng, có sự tranh tụng của người bào chữa và sự chứng kiến của công chúng, do đó cơ quan và người tiến hành tố tụng khó có thể áp dụng các biện pháp trái pháp luật.

4. Hệ thống các biện pháp bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền được luận án phân thành những nhóm nào?

Luận án phân thành 5 nhóm: (1) Các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật; (2) Các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức; (3) Các biện pháp xử lý vi phạm quyền con người; (4) Các biện pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân; (5) Các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của Nhà nước.

5. Việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được luận án tiếp cận từ những phương diện nào?

Được tiếp cận từ hai phương diện có quan hệ mật thiết:

  1. Bảo đảm các quyền công dân chung: Bảo đảm các quyền cơ bản (tính mạng, sức khỏe, thân thể, danh dự, tài sản) không bị hạn chế trái pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
  2. Bảo đảm quyền tố tụng: Xây dựng địa vị pháp lý và điều kiện thực tế để họ thực hiện các quyền năng tố tụng nhằm bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội, bác bỏ buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Lại Văn Trình là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tác phẩm đã phân định ranh giới lý luận quan trọng giữa quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp và quyền bào chữa, đồng thời chỉ ra các mâu thuẫn kỹ thuật trong BLTTHS 2003 và thực trạng xâm phạm quyền trong giai đoạn 2004–2009. Hệ thống kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi được đề xuất trong luận án mang giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn sâu sắc cho công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.