Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH VE XOÁ AN TÍCH LIEN QUAN DEN BAO VE QUYEN CON NGƯỜI 1. Khái quát chung về quyền con người và van đề xoá án tích 1. Khái niệm, đặc điễm quyền con người - Khai niệm QCN: QCN là một biểu tượng cho giá trị vĩnh cửu của nhân loại, được tất cả các quốc gia của cộng đồng nhân loại nói chung đặc biệt quan tâm, ghi nhận và đảm bảo thực hiện ở những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá -xã hội và truyền thông dân tộc. Hiện nay, theo một tài liệu của Liên hiệp quốc - Question and Answers, Geneva, 1994 thì có khoảng 50 định nghĩa về QCN đã được công bồ [16, tr 41] mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định: Chính trị, Luật học, Triết học.
Trong đó, dưới góc độ Luật học có nhiều quan niệm khác nhau về QCN như Sau: Quan niệm thứ nhất, thuộc trường phái pháp luật tự nhiên cho răng QCN là những gì bam sinh, vốn có gan liền với con người vì có “?uật tu nhiên” mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại [6, tr41]. Do đó, các QCN không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thong văn hoá hay ý chí của bat cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức hay cộng đồng nhà nước nào và không có bat kỳ chủ thé nào có thể ban phat hay tước bỏ các QCN bam sinh, vốn có đó. Quan niệm này đã chỉ rõ bản chất tự nhiên của QCN, đã đặt con người đứng ở vị trí với những quyền năng tự nhiên cao hơn pháp luật thực định nhưng lại tuyệt đối hoá vị trí của cá nhân, coi con người là bất biến, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân tộc, tôn giáo, chính phủ. Từ đó dẫn đến việc phủ nhận tính giai cấp, tính xã hội và tính đặc thù của QCN [17, tr 26].
8 Quan niệm thứ hai, thuộc trường phái pháp luật thực định, quan niệm của trường phái này đi ngược lại với quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên [6, tr 41]. Quan niệm của hoc thuyết này xuất phát từ việc đặt con người trong tong thể các mối quan hệ xã hội cho rằng con người là một thực thé xã hội “con người thuộc về xã hội”, do vậy QCN chỉ được xác định trong mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội, được chế độ nhà nước, pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Tính xác thực của quan điểm này đã coi QCN là khái niệm có tính chất lịch sử, vì thế QCN luôn luôn gan liền với các cuộc dau tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, gắn liền với từng trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu sự hạn định của chế độ kinh tế và nhất là của chế độ chính trị xã hội, hay nói cách khác QCN luôn gắn liền với sự tồn tại của nhà nước và pháp luật, hoàn toàn phụ thuộc và chịu sự định đoạt của nhà nước với hệ thống pháp luật được xây dựng chủ yếu phục vụ cho giai cấp cầm quyền và các thiết chế quản lý xã hội mang tính bạo lực (quân đội, công an, toà án, trại cải tạo. Quan niệm về QCN theo trường phái pháp luật thực định tuy đã nói lên bản chất xã hội của QCN nhưng lại không thừa nhận tính tự nhiên và tính phổ biến của QCN.
Hai quan niệm về QCN của hai trường phái nêu trên đều có những hạt nhân hợp lý nhưng lại tuyệt đối hoá một trong hai thuộc tính căn bản của QCN nên không tránh khỏi chủ quan, phiến diện khi nhận thức về bản chất QCN [16, tr 44]. Khắc phục được những hạn chế trên, học thuyết Mác -Lênin đã đưa ra một quan điểm rất biện chứng về QCN, đó là quan điểm xem con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Trước hết, con người cũng là một dạng vật chất được hình thành từ sự tiến hóa của tự nhiên nên mang bản tính tự nhiên (tính sinh học, tính loài). Nhưng để phát triển ngày một hoàn thiện hon đòi hoi con người không ngừng tac động vào tự nhiên, tac động qua lại lẫn nhau làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và tự làm biến đổi mình.
Dé đáp ứng yêu cầu đó, trước hết đòi hỏi con người phải lao động 9 sản xuất tạo ra của cải vật chất, một khi số lượng của cải trở nên “dir ăn, dự để” thì tư hữu xuất hiện kéo theo sự xuất hiện các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội, và hình thành nên nhà nước. Trong điều kiện xuất hiện giai cấp và xung đột giai cấp thi sẽ có sự biến đồi qua lại giữa ban tinh tự nhiên và ban tính xã hội, trong đó ban tính xã hội trở thành bản tính giai cấp, bản tính tự nhiên của con người lúc ấy sẽ chịu sự chi phối của giai cấp cam quyền trong xã hội. Như vậy, QCN dù là quyền tự nhiên nhưng không phải tự nhiên mà có, nó phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của chính con người, phụ thuộc vào sự phát triển của chính lực lượng sản xuất và trình độ phát triển kinh tế xã hội, nói cách khác, không có xã hội con người thì cũng không có khái niệm con người tồn tại với những quyền nhất định [8, tr 45]. Trên tinh thần thừa nhận các thuộc tính của QCN, hàng loạt các khái niệm về QCN lần lượt được ghi nhận.
Ở cấp độ quốc gia, Mỹ ghi nhận: “QCN là quyên sống, quyên tự do và mưu cầu hạnh phúc” trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776; Pháp ghi nhận: “QCN là quyển tự do, sở hữu, được an toàn và được chống lại áp bức” trong Hién pháp năm 1791. Ở cấp độ quốc tế QCN được thừa nhận là “những bảo đảm pháp lý toàn cau có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm ton hai đến nhân phẩm, những sự được phép và quyén tự do cơ bản của con người ” (định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp). Về mặt pháp lý, QCN bao gồm nhiều quyền cụ thể được quy định trong từng lĩnh vực cụ thể, được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận và xây dựng các cơ chế bảo đảm thực hiện. Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948 còn gọi là Tuyên ngôn nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights) đưa ra 30 điều khoản có tính nguyên tắc, cụ thê hoá các đặc quyền của con người và đưa ra trách nhiệm cụ thé của từng quốc gia liên quan đến van đề nhân quyền, đặc biệt là trong việc bảo đảm các quyên đó.
Trên cơ sở đó, các công ước của Liên hiệp quôc năm 10 1966 cụ thể hoá các nguyên tắc trên thành các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. của từng cá nhân cụ thé. Tai Viét Nam, quan điểm về QCN ở Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và có sự tiếp thu có chọn lọc với các tư tưởng tiến bộ trên thé giới. Dang chỉ rõ: “OCN la thành quả của cuộc dau tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thé giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, QCN trở thành gia trị chung của nhân loạt” [S, tr 43].
Từ những phân tích trên, tac giả cho rằng “QCN là những giá trị cao quý của nhân loại, phản anh những nhu câu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người, gắn lién với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội nhất định, được ghỉ nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc te”. - Đặc điểm của QCN: + QCN vừa là những giá trị vĩnh hăng, gan liền với su ra đời và tồn tại của con người vừa là những đại lượng biến đổi gắn liền với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi thời đại, mỗi quốc gia và mỗi dân tộc. + QCN vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. QCN là quyền tự nhiên vốn có của con người, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, nhưng ở từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, các nội dung của QCN ngày càng được ghi nhận cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn.
+ QCN vừa có tính phô biến vừa có tinh đặc thù. Tính phô biến thé hiện ở chỗ QCN là những gi bam sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đăng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chăng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phan xuất thân. Đây chính là sự bình dang về tư cách 11 chủ thé của QCN. Tinh đặc thù thé hiện những giá trị riêng có ở mỗi quốc gia, dân tộc do điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống, đạo đức, văn hoá, lịch sử của quốc gia đó quy định.
+ QCN vừa có tính nhân loại vừa có tính giai cấp. Trong xã hội còn giai cấp và đấu tranh giai cấp thì QCN cũng mang đậm tính giai cấp. Con người sống trong xã hội, do đó quyền và tự do của họ luôn bị chi phối bởi chính thiết chế tổ chức, chế độ chính trị - xã hội của xã hội đó. + QCN vừa là quyền của mỗi cá nhân con người với tư cách là thành viên của xã hội vừa là quyền của tập thé, nhóm, giới, cộng đồng dân tộc, quốc gia.
Những quyền này không tách rời nghĩa vụ của các cá nhân, tập thé trước nhà nước, xã hội. Khái niệm, đặc diém của xoá án tích - Khai niệm xoá an tích: Xoá án tích là một trong các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự. Nó thể hiện sự công nhận của nhà nước đối với nỗ lực hoàn lương của người bị kết, tạo điều kiện, khuyến khích người bị kết án chấp hành tốt các quy định của pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng. Xóa án tích cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự, vì nó là căn cứ để xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm.