phần mở đầu, con ngƣời đƣợc coi là vốn quý của xã hội, là đối tƣợng hàng đầu đƣợc luật hình sự nói riêng cũng nhƣ pháp luật nói chung bảo vệ. Bảo vệ con ngƣời trƣớc hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, trong đó bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì những lẽ đó, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời nằm trong chƣơng thứ XII. Đây là một trong những chƣơng của Bộ luật hình sự bao gồm những quy phạm pháp luật trực tiếp bảo vệ con ngƣời với tƣ cách là chủ thể của các mối quan hệ xã hội.
Vậy chúng ta hiểu thế nào là nhân phẩm, danh dự của con ngƣời? Theo tác giả, “danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của ngƣời đó”. Sự đánh giá của xã hội có thể về mặt lao động nhƣ nói ngƣời cần cù, siêng năng hay lƣời nhác, có thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việc đƣợc giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cƣ xử với mọi ngƣơi xung quanh nhƣ ngƣời đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong mối quan hệ với mọi ngƣời thì thân ái đoàn kết hay ích kỷ. Nhƣ vậy, danh dự của một con ngƣời đƣợc hình thành từ những hành động và cách cƣ xử của ngƣời đó, từ công lao và thành tích mà ngƣời đó có đƣợc qua những năm tháng của cuộc đời và đƣợc xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo dức xã hội chủ nghĩa. Danh dự là một khái niệm 7 z rộng gắn liền với một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định.
Danh dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau: - Lòng tự trọng: tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí của mình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của ngƣời khác chính là xúc phạm đến danh dự của ngƣời đó). - Uy tín: chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng đƣợc công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi ngƣời trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo. Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự. Nhân phẩm là phẩm giá con ngƣời, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con ngƣời.
Chà đạp lên nhân phẩm của ngƣời khác cũng là xúc phạm đến danh dự ngƣời đó. Mặc dù nhân phẩm cũng là một yếu tố của danh dự, song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau nhất định: Nếu danh dự đƣợc hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và đƣợc xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa thì nhân phẩm lại có từ khi con ngƣời mới sinh ra. Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhƣng nhân phẩm chỉ là một khái niệm đƣợc áp dụng đối với cá nhân. Mặc dù danh dự của một con ngƣời đƣợc hình thành từ những hành vi và cách cƣ xử, từ công lao và thành tích của ngƣời đó có đƣợc qua nhiều năm tháng của cuộc đời và đƣợc thừa nhận, nhƣng mọi ngƣời dân đều có quyền đƣợc bảo vệ danh dự và nhân phẩm nhƣ nhau không phân biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của ngƣời có quyền; những ngƣời không có năng lực hành vi dân sự, những ngƣời mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm nhƣ mọi công dân khác.
Cũng giống nhƣ những quyền dân sự khác, quyền đƣợc bảo vệ danh dự và nhân phẩm của cá nhân chấm dứt khi cá nhân đó chết. Tuy nhiên cũng có 8 z trƣờng hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩm cho một cá nhân mặc dù cá nhân đó đã chết. Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thƣờng thể hiện bằng cách: Dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhục ngƣời khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho ngƣời khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về ngƣời đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc ngƣời đƣa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý.
Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên tính chất nghiêm trọng của những tin tức đƣa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của ngƣời bị hại. Ví dụ: Nếu nói một em học sinh quay cóp khi thi mà không đúng sự thật thì cũng là điều đáng chê trách và cũng có thể bị dƣ luận lên án, nhƣng không nghiêm trọng bằng việc nói một nhà văn đã ăn cắp văn của ngƣời khác. Nhân phẩm, danh dự của con người được quy định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và pháp luật quốc tế.
Không chỉ đối với Việt Nam, pháp luật quốc tế cũng ghi nhận quyền đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời. Đây là một trong những yếu tố hình thành quyền công dân nói chung và quyền con ngƣời nói riêng, nó là những quyền tự nhiên của con ngƣời và không bị tƣớc bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con ngƣời. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đƣa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ.
Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó đƣợc lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình. 9 z Trong Hiến pháp của Việt Nam năm 2013, quyền đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự là quyền hiến định, đƣợc quy định trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Theo Hiến Pháp năm 2013, quyền đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền này đƣợc quy định rõ nhất tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nhƣ sau: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Có ý kiến cho rằng chỉ xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản mới gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức và cần phải bảo vệ. Ý kiến này hoàn toàn không chính xác. Mặc dù nhân phẩm, danh dự là những giá trị nhân thân không trị giá đƣợc bằng tiền, tuy nhiên, xâm phạm đến giá trị này có thể ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của chủ thể bị xâm phạm.
Thiệt hại mà chủ thể bị xâm phạm nhân phẩm, danh dự phải gánh chịu bao gồm cả thiệt hại về vật và tổn thất về tinh thần. Tổ chức bị xâm phạm danh dự có thể bị giảm thu nhập, thậm chí bị tuyên bố phá sản. Cá nhân bị xâm phạm nhân phẩm, danh dự cũng có thể bị giảm thu nhập, ảnh hƣởng đến hoạt động nghề nghiệp, đến các mối quan hệ xã hội, thậm chí đến sức khỏe, tính mạng. Rõ ràng hậu quả mà chủ thể bị xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời phải gánh chịu cũng rất nghiêm trọng.
Đây cũng chính là cơ sở để bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời. Trên cơ sở đƣợc quy định trong Hiến pháp, quyền đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự đƣợc quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật của 10 z nhiều ngành luật khác nhau tạo thành một hệ thống các quy định về quyền đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời, trong đó pháp luật hình sự đóng vai trò quan trọng. Ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong luật hình sự Việt Nam. Việc quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời trong luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa dƣới các góc độ chính sau đây: Thứ nhất, dƣới góc độ chính trị xã hội, đã góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến Pháp về bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân.
Khoản 1 Điều 20 của Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi ngƣời có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [27]. Nhƣ vậy, việc bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân đã đƣợc Hiến Pháp xác lập, ghi nhận và đƣợc pháp luật Hình sự bảo vệ. Những quy định trong chƣơng XII – “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con ngƣời” của Bộ luật Hình sự nói chung, từ Điều 111 đến Điều 122 về các tội xâm phạm “nhân phẩm, danh dự của con ngƣời” nói riêng đã thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống các tội phạm về nhân phẩm, danh dự của con ngƣời của Đảng và Nhà nƣớc ta để bảo vệ sự nghiệp cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng nhƣ bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc đối với xã hội, tiến tới mục tiêu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh.