Lời mở đầu Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 10 đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì. Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó. Học thuyết Mác-Lê Nin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng giá trị tinh hoa của nhân loại về con người và quyền con người.
Các Mác quan niệm con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật-xã hội ”. Do đó quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”. Như vậy, đã có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người. Từ những cách tiếp cận khác nhau đã xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người ở cấp độ quốc gia hay quốc tế.
Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người : "Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người".8 Ngoài ra, còn có các định nghĩa khác như "Quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội. đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người".9 Định nghĩa này đã xem các quyền con người như là những quyền tự nhiên, cơ bản của con người. Ở Việt Nam, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế 10. Như vậy, các quan điểm về quyền con người ở Việt Nam cũng thừa nhận quyền con người là những quyền tự nhiên, tuy nhiên phải có sự ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế.
Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Từ đó, có thể hiểu quyền con người là những quyền mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng. Như vậy, trong tư tưởng nhân loại hiện đại thì con người và những gì thuộc về con người là những giá trị, mục đích cao cả nhất đối với mọi tổ chức và tất cả các xã hội. Khái niệm quyền con người là một khái niệm mở bởi nó có thể thay đổi theo sự phát triển của con người và xã hội loài người.
Cũng vì lí do này mà việc bảo đảm thực 8 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 41 9 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 42 10 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 42 11 hiện quyền con người là một quá trình liên tục và phức tạp gắn chặt với từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Nhưng tựu chung lại, để quyền con người có thể được nhìn nhận là một giá trị cao cả thì Nhà nước phải là chủ thể đầu tiên có trách nhiệm thực hiện quyền con người bằng hệ thống pháp luật dân chủ và tiến bộ. Về bản chất, quyền con người là những vấn đề thuộc riêng về con người nên bản chất của quyền con người xuất phát từ chính bản chất của con người. Con người là một thực thể tự nhiên-xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho nên quyền con người cũng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội.
Do con người là một thực thể sinh học xã hội, cho nên quyền con người vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa quyền con người được áp dụng phổ biến mọi nơi, cho mọi đối tượng. Tính đặc thù của quyền con người có nghĩa, quyền này ở mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau mà có đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của quốc gia, lãnh thổ đó. Quyền con người mang tính xã hội, nên trong xã hội có sự phân chia giai cấp nên nó vừa mang tính giai cấp sâu sắc, vừa là một giá trị của nhân loại.
Trong Nhà nước XHCN có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợí ích toàn xã hội. Lợí ích cá nhân là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của tập thể, của cả cộng đồng xã hội. Tức là quyền con người phải được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợí ích xã hội. Như vậy, “quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội nhất định.
Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân loại và thống nhất với quyền dân tộc cơ bản”. Về đặc điểm của quyền con người đã được T.S Võ Thị Kim Oanh liệt kê như sau: - Quyền con người là những giá trị vừa gắn liền với cá nhân con người, vừa gắn liền với lợi ích quốc gia dân tộc. Bởi, con người là công dân của một nhà nước, là thành viên của một dân tộc, cộng đồng và không ai sống riêng rẻ ngoài cộng đồng. - Quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên, vừa mang tính xã hội vì con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội.
Quyền con người xuất phát từ đặc điểm tự nhiên của con người nhưng con người lại tồn tại trong xã hội nên quyền con người cũng mang tính xã hội và bị chi phối bởi các đặc tính của xã hội mà con người tồn tại. - Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù. Vấn đề bảo vệ quyền con người là vấn đề chung của toàn cầu nhưng mỗi quốc gia ghi nhận và 12 thực hiện vấn đề này ở những mức độ và cách thức khác nhau phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia đó. Việc nắm vững bản chất và đặc điểm của quyền con người sẽ giúp tìm ra cách lý giải cho việc tồn tại những mức độ khác nhau của việc bảo đảm quyền con người khi nghiên cứu các chế định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; tìm ra cách thức đảm bảo quyền con người và hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như cơ chế bảo đảm thi hành quyền con người sao cho hiệu quả nhất trong điều kiện cho phép của xã hội hiện tại.
Các tính chất của quyền con người - Tính phổ biến Thuộc tính này có nghĩa quyền con người có ở tất cả các cá nhân, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xã hội,.tất cả mọi người đều có những quyền như nhau. Quyền con người là thuộc tính tự nhiên vốn có và được trao cho tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội. Hay nói cách khác, thuộc tính này khẳng định quyền con người là những quyền thiết thân của con người khi sinh ra đã có mà không phụ thuộc vào các nhân tố xã hội. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các quyền con người có tính phổ biến, nghĩa là như nhau giữa mọi người, tất cả các cá nhân đều có các quyền này.
Nhưng điều đó không có nghĩa là mức độ hưởng thụ các quyền này giữa các cá nhân là như nhau, mà các quyền con người sẽ còn phụ thuộc vào tư cách chủ thể, hay nói cách khác, giữa các nhóm chủ thể khác nhau thì quyền của họ cũng khác nhau, nhưng những cá nhân trong cùng một nhóm chủ thể thì quyền của họ sẽ là như nhau. - Tính không thể chuyển nhượng Quyền con người là những quyền không thể bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi bất cứ một thế lực nào, kể cả Nhà nước. Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận những trường hợp đặc biệt mà quyền con người có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế, đó chính là khi một cá nhân thực hiện những hành vi đi ngược với lợi ích của xã hội, ngược với tiêu chuẩn chung của loài người, của cộng đồng xã hội, khi đó, họ đã tự tách biệt mình khỏi xã hội loài người thậm chí xâm phạm lợi ích của cộng đồng nên quyền của họ có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nhằm bảo vệ quyền con người của những cá thể khác trong xã hội, đúng chuẩn mực chung của xã hội loài người. - Tính không thể phân chia Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào có giá trị cao hơn hay thấp hơn quyền nào.
Bất cứ một quyền nào bị xâm phạm thì cũng đã xâm phạm đến quyền con người. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, trong từng bối cảnh xã hội mà việc thực hiện, bảo đảm các quyền con người có thể có các thứ tự ưu tiên khác nhau. Các 13 thức tự ưu tiên này không dựa trên các giá trị cao hay thấp của quyền con người mà dựa trên tình hình cấp thiết của việc bảo đảm các quyền đó trong từng bối cảnh cụ thể. - Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Các quyền con người nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau.
Sự vi phạm quyền này sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Quyền con người và quyền công dân Quyền con người có mối liên hệ mật thiết với quyền công dân. Các Mác cho rằng quyền con người và quyền công dân luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau.