Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Một số văn bản quốc tế về nhân quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự và thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với việc bảo vệ các quyền con người. Chương 3: Hoàn thiện chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam nhằm tăng cường việc bảo vệ các quyền con người. Đề tài nghiên cứu “Bảo vệ các quyền con người bằng chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam” là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu cần có kiến thức sâu rộng cả về lý luận và thực tiễn.
Ngoài ra, nó còn đòi hỏi người viết cần có sự liên hệ, suy luận, kỹ năng phân tích để nắm được vấn đề cốt lõi là những quyền con người nào được bảo vệ bằng chế định các trường hợp loại trừ TNHS; tìm ra được những tồn tại và vướng mặc còn gặp phải của chế định này từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện. 9 z Chƣơng I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH NHỮNG TRƢỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Bản chất pháp lý của chế định các trƣờng hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam 1. Ý nghĩa của việc quy định chế định các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về các trường hợp loại trừ TNHS có ý nghĩa trên một số bình diện sau: 1) Những trường hợp loại trừ TNHS là một trong những chế định cơ bản phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và PLHS nói riêng trong Nhà nước pháp quyền [14, tr.
2) Trong khoa học luật hình sự và trong thực tiễn áp dụng PLHS hiện nay xung quanh những vấn đề khái niệm, hệ thống và bản chất pháp lý của chế định này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau cần phải được nhà làm luật khẳng định dứt khoát về mặt lập pháp [14, tr. Từ đó, có cách hiểu thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng làm cho việc áp dụng chế định này chính xác và đúng pháp luật. 3) Việc tiếp tục phân tích khoa học để làm sáng tỏ về mặt lý luận để tìm ra những trường hợp loại trừ TNHS trong thực tiễn, đồng thời đưa ra một mô hình lý luận nhằm hoàn thiện chế định đang được nghiên cứu là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng và cần thiết của khoa học luật hình sự Việt Nam [14, tr. 4) Việc quy định các trường hợp loại trừ TNHS trong PLHS Việt Nam giúp cho mọi người vững tin hơn khi hành động, chủ động đấu tranh chống lại 10 z những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Nhà nước cấm, từ bỏ ý định hoặc hành vi có hại cho xã hội mà mình tưởng lầm là không trái pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.
5) Việc quy định và hoàn thiện chế định các trường hợp loại trừ TNHS trong PLHS Việt Nam góp phần làm cho pháp luật từng bước đi vào cuộc sống, loại trừ những quy phạm không phù hợp với cuộc sống cũng như kịp thời bổ sung những quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần có sự can thiệp của pháp luật. Tóm lại, quy định vấn đề các trường hợp loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý rất quan trọng trong việc xác định ranh giới giữa tội phạm và không phải là tội phạm, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong mỗi trường hợp tương ứng, cũng như phát huy tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đặc biệt, trong số đó lại có trường hợp được Nhà nước khuyến khích, khen thưởng như: thực hiện hành vi trong phòng vệ chính đáng và trong tình thế cấp thiết vì chúng là những hành vi có ích cho xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng [56, tr. Một số quan điểm chủ yếu về bản chất pháp lý của chế định các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Cho đến nay vấn đề bản chất pháp lý của các trường hợp loại trừ TNHS như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ… vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau dưới đây [14, tr.510 – 512]: 1) Trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây và khoa học luật hình sự Liên Bang Nga hiện nay có một số quan điểm như sau về bản chất pháp lý của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, cụ thể là: a) Một số GS.TSKH luật, Viện sĩ Viện HLKH Liên Xô trước đây (Piôntkôvxki A.X và Trkhikvađze V.M) viết “Chúng không những chỉ là các tình tiết loại trừ cấu thành tội phạm trong hành vi được thực hiện”.TSKH luật Xlutxki I.I coi các trường hợp này là các tình tiết loại trừ TNHS và phân chia chúng thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất – các tình tiết thể hiện rõ lợi ích cho xã hội tính hợp pháp của hành vi (bao gồm: phòng vệ chính đáng, áp dụng các biện pháp cần thiết để bắt giữ người phạm tội, tình thế cấp thiết, chấp hành lệnh hợp pháp, thực hiện các trách nhiệm nghề nghiệp và công vụ, thực hiện quyền của mình và bắt buộc phải tuân thủ); nhóm thứ hai – các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội và tình phải bị xử phạt của hành vi (bao gồm: tự nguyện đình chỉ tội phạm, sự đồng ý của người bị hại, tính chất nhỏ nhặt của vi phạm pháp luật, sự thay đổi của pháp luật, sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội, hết thời hiệu truy tố hình sự và hết thời hiệu của bản án); nhóm thứ ba – các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi (bao gồm: sự cưỡng bức về thể xác, sức mạnh không thể chống lại được).
c) Bên cạnh các quan điểm đã nêu, quan điểm của GS.TSKH luật Naumôv A.V là rõ hơn cả, khi ông viết: “Tất cả các trường hợp này đều loại trừ cả tính trái PLHS, cả tính nguy hiểm cho xã hội, cả tính chất lỗi, cả tính phải bị xử phạt của hành vi và do đó, cả tính chất tội phạm của nó”. d) Sau khi nhà làm luật Liên Bang Nga đã chính thức ghi nhận trong Chương 8 BLHS năm 1996 hiện hành, bản chất pháp lý của những trường hợp này là “Các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” (các Điều 37 - 42), thì hầu hết các nhà hình sự học Nga đều đồng nhất với quan điểm coi chúng chính là các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi;… 2) Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cho đến nay về bản chất pháp lý của các trường hợp loại trừ TNHS vẫn còn tồn tại năm quan điểm chính như sau [14, tr.512-513]: a) Hầu hết các nhà hình sự học (PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, TS Ngô Ngọc Thủy, TS Nguyễn Mạnh Kháng…) đều coi chúng là các tình tiết loại trừ 12 z tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và quan điểm này được thể hiện trong hầu hết các giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung).TS Kiều Đình Thụ quan niệm chúng là những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Nguyễn Ngọc Chí và ThS. Đinh Văn Quế có cùng chung một quan điểm – đều gọi chúng là các trường hợp loại trừ TNHS.
d) Tác giả Phạm Hải Đăng quan niệm chúng là những trường hợp không phải là tội phạm. e) Tác giả luận văn đồng tình với quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm khi cho rằng bản chất pháp lý đó là các trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi với các lý do sau đây [14, tr.513, 515, 516): Nếu phân tích theo phép biện chứng duy vật và logic của vấn đề, thì trong nghiên cứu khoa học bao giờ người nghiên cứu cũng phải lần lượt đi theo thứ tự từ A rồi mới đến B, C… (chứ không thể chưa qua A, mà lại đi thẳng vào B rồi mới quay lại khẳng định cho A là làm ngược). Theo cách hiểu trên thì tội phạm tự bản thân nó là một hành vi, nên khi bàn về bản chất pháp lý của hành vi đó chúng ta cần phải lần lượt phân tích theo một thứ tự gồm hai bước: Bước 1 – phân tích các dấu hiệu (A) của nó xem thử hành vi đó có phải là tội phạm hay không, nếu không phải là tội phạm thì do thiếu dấu hiệu nào trong năm dấu hiệu được thừa nhận chung mà tính chất tội phạm của nó được loại trừ; bước 2 – bàn về vấn đề trách nhiệm hình sự với tính chất là hậu quả của việc thực hiện hành vi đó (B) trong từng trường hợp tương ứng cụ thể như thế nào (được loại trừ TNHS - nếu hành vi không phải là tội phạm hoặc là phải chịu TNHS - nếu nó là tội phạm), chứ không thể ngay từ đầu đã bỏ qua bước 1 để sang bước 2. Nếu xem xét như bước 1 đã nêu, chúng ta có thể nhận thấy rõ bản chất pháp lý của tất cả sáu trường hợp đang nghiên cứu trong Phần chung BLHS 13 z Việt Nam năm 1999 hiện hành (bao gồm: sự kiện bất ngờ, hành vi được thực hiện bởi người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi được thực hiện bởi người không có năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể) đều là các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi vì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong các trường hợp này đều thiếu một trong các dấu hiệu của tội phạm.