Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử của người khuyết tật. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp thực hiện quyền được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN ĐƢỢC BẢO VỆ KHỎI SỰ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1.
Khái niệm ngƣời khuyết tật, kỳ thị, phân biệt đối xử 1. Định nghĩa về khuyết tật 1. Định nghĩa về khuyết tật theo quan điểm của các diễn đàn quốc tế Hiện nay, nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới đã xây dựng và đưa ra những định nghĩa khác nhau về khuyết tật, những định nghĩa này có liên quan đến lịch sử và nhận thức, yếu tố văn hóa của mỗi xã hội khác nhau. Quá trình nghiên cứu các định nghĩa về khuyết tật của các tổ chức và quốc gia trên thế giới, có thể khái quát bốn mô hình chính mà các diễn đàn quốc tế đã đưa ra để phản ánh quan điểm, định nghĩa về khuyết tật như sau: - Mô hình từ thiện; - Mô hình y tế; - Mô hình xã hội; - Mô hình dựa vào quyền.
Mô hình Từ thiện: Trong mô hình từ thiện, NKT chính là nạn nhân bởi những khiếm khuyết của họ: Họ không thể đi lại, nghe, nhìn, học tập, làm việc, họ không thể tự sống một cuộc sống độc lập. NKT sẽ rất khó hoặc không bao giờ được hưởng sự hạnh phúc, không một ai có thể suy nghĩ rằng sẽ có thể vào một ngày nào đó NKT có “khả năng bình thường”. Mô hình này hình thành sự nhìn nhận vấn đề khuyết tật trong một khoảng thời gian khá dài, ở các quốc gia trên thế giới. Cách mà mọi người trong xã hội nhìn NKT là “.
Thật tội nghiệp, thật đáng thương.”, trước mắt của mỗi người chỉ là những bi kịch, những khó khăn trong cuộc sống 7 z của NKT, những đau khổ của NKT phải gánh chịu, chịu đựng và không nhìn thấy một giá trị nào của họ. NKT không phải, không còn là một phần của xã hội, còn nếu có, họ chỉ liên quan đến một góc nhỏ của xã hội, liên quan đến một tổ chức đặc biệt nào đó. Mô hình y tế hay mô hình cá nhân Trong mô hình y tế hay mô hình cá nhân, coi NKT là bệnh nhân cần được chữa trị phục hồi, chăm sóc y tế. Do đó, vai trò của NKT là thụ động.
Trong xã hội chỉ có một phần nhỏ tham gia vào việc quản lý, chăm sóc NKT: các bác sĩ, y tá và các chuyên gia y tế. Trách nhiệm để trở lại tình trạng bình thường thuộc về NKT và một phần thuộc về hệ thống y tế. Khi nhu cầu thực tế của NKT là cấp thiết, thì cần phải thành lập những nơi đặc biệt danh cho NKT. Như vậy, NKT sẽ được đưa đến một khu vực đặc biệt.
Khi NKT muốn hoà nhập vào xã hội, họ có thể phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều hình thức phân biệt đối xử như: - Phân biệt đối xử trong thái độ, hành vi ứng xử: Khi cố gắng muốn hòa nhập vào cộng đồng, xã hội NKT hay bị coi thường, khinh rẻ. Những người bình thường họ hay sợ, không thích NKT, họ cố gắng lảng tránh NKT, đôi khi quay mặt đi thậm chí họ còn công khai yêu cầu NKT phải rời khỏi nơi họ đang hoạt động; - Về cơ sở vật chất, hạ tầng: Nếu xã hội là dành cho người bình thường, thì sẽ có rất ít cơ sở hạ tầng phù hợp dành cho NKT như công trình công cộng, giao thông vận tải; - Thể chế, pháp luật: Không có quyền cho người khác biệt, ví dụ như NKT có thể không có quyền được kết hôn bởi những lý do về khiếm khuyết, khuyết tật … Mô hình xã hội: Trong mô hình xã hội, đã có sự thay đổi cách nhìn nhận về NKT: Từ 8 z việc tách biệt người bình thường khỏi NKT, đến quan niệm rằng khuyết tật không chỉ phụ thuộc vào từng cá nhân mà còn phụ thuộc vào môi trường. Nếu có một loại hình môi trường nào ngăn cản NKT tận hưởng cuộc sống hoà nhập, thì sẽ có một loại môi trường khác thực sự có thể cho phép họ làm như vậy. Từ quan điểm trên, có thể suy luận rằng tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta hoặc trong một khoảnh khắc bất kỳ nào đó, chúng ta trở nên bất lực, không làm được một việc gì đó, ví dụ như: khi chúng ta không thể tiếp cận một vấn đề nào đó nguyên nhân do chúng ta thiếu kiến thức hoặc công nghệ để tiếp cận.
Mô hình dựa vào quyền: Trong mô hình dựa vào quyền, quyền con người là của tất cả mọi người. Nếu mỗi người đều có quyền như nhau thì xã hội sẽ không có sự tách biệt như trong mô hình từ thiện và mô hình y tế. NKT vẫn cần đến sự chăm sóc, trị liệu và các cơ sở vì NKT. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo NKT có thể tiếp cận với tất cả các lĩnh vực như: y tế, văn hóa, giáo dục, việc làm, giải trí.
Xã hội phải thay đổi để thích nghi, để phá vỡ tất cả các rào cản đã có sẵn về NKT, cả về cơ hội cũng như khả năng tiếp cận. Văn bản pháp, chủ chương, chính sách mới cần được đưa ra và thực hiện. Như vậy, đối với mỗi mô hình nêu trên, các học giả đưa ra cách nhìn nhận khác nhau về khuyết tật, NKT, mỗi mô hình có những đặc thù riêng. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu quyền của NKT nói chung và quyền bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử của NKT nói riêng, tác giả nhận thấy mô hình dựa vào quyền là mô hình mang lại cái nhìn khái quát nhất về NKT, việc lựa chọn mô hình này trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật NKT là rất cần thiết.
Định nghĩa về khuyết tật bởi các tổ chức y tế thế giới Cuốn “Phân loại Quốc tế về Khiếm khuyết, khuyết tật và Tàn tật (ICIDH)”, 9 z xuất bản lần đầu tiên vào năm 1980 bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã có một sự phân biệt quan trọng giữa khiếm khuyết và hai hình thức khác của tình trạng khuyết tật, được gọi là khuyết tật và tàn tật, theo đó: - “Khuyết tật” là bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người. - “Tàn tật” là tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội và văn hóa. Dựa vào văn kiện đầu tiên này, bảng phân loại sau đây được đưa ra, để hiểu rõ hơn các thuật ngữ về khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật: KHIẾM KHUYẾT KHUYẾT TẬT TÀN TẬT Suy giảm khả năng trí tuệ Suy giảm tâm lý khác Khuyết tật về hành vi, Tàn tật về giao tiếp Suy giảm về ngôn ngữ và khuyết tật về giao tiếp từ ngữ Khuyết tật trong chăm sóc Tàn tật đối với sự độc lập Khiếm thính bản thân về thể chất Khiếm thị Khuyết tật về vận động Tàn tật về di chuyển Khuyết tật về cơ thể, Khiếm khuyết bộ phận cơ thể Tàn tật nghề nghiệp khuyết tật về sự khéo léo Suy giảm về cấu trúc xương Khuyết tật trong hoàn cảnh Tàn tật trong hoà nhập xã hội NKT trong các hoạt động Sẹo và suy giảm về thẩm mỹ Tàn tật trong tự chủ kinh tế cụ thể Khiếm khuyết nói chung Các hạn chế khác với khả Các loại tàn tật khác cảm giác và các loại khác năng 10 z Tài liệu đầu tiên này của WHO đã đặt nền tảng cho sự hiểu biết tốt hơn về khuyết tật, đưa đến một cách nhìn hoàn toàn khác cho những hành động vì NKT. Sự khác biệt giữa tình trạng thể chất và điều kiện xã hội đã được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận.
Trong tài liệu thứ hai của WHO, năm 2001, ngay ở tiêu đề của tài liệu, người ta có thể thấy một bước tiến rõ ràng trong sự hiểu biết về khái niệm khuyết tật. Cuốn “Phân loại Quốc tế về Chức năng, khuyết tật và Sức khỏe” (ICF): không còn đề cập đến vấn đề về chức năng hoặc vấn đề cấu trúc, tình trạng được coi là “khỏe mạnh” nếu không có vấn đề này. ICF đưa ra một cách nhìn mới về khái niệm về “sức khỏe” và “khuyết tật” có liên kết chặt chẽ với nhau. Cuốn tài liệu này thừa nhận rằng mỗi con người đều có thể từng có sự suy giảm về sức khỏe và do đó đối mặt với tình trạng khuyết tật ở một mức độ nào đó.
Từ những phân tích trên có thể hiểu khái niệm khuyết tật như sau: Khuyết tật là tình trạng mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết cơ thể, hành vi, nhận thức làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người. Khái niệm người khuyết tật, kỳ thị, phân biệt đối xử 1. Khái niệm người khuyết tật Theo Điều 1 Công ước về quyền của NKT (Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007) đã đưa ra khái niệm NKT như sau: Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác. Khác với quan niệm của Công ước về Quyền của NKT, khi đưa ra khái 11 z niệm về NKT, Chính phủ Việt Nam chú trọng đến các điều kiện y tế trong định nghĩa và cách tiếp cận với NKT, theo đó: Điều 2 Luật NKT 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [20, Điều 2].
Từ những định nghĩa, khái niệm về NKT qua nghiên cứu Công ước về quyền của NKT, Luật NKT Việt Nam 2010 có thể khái quát: NKT là người có một hay nhiều khiếm khuyết trên cơ thể hoặc tinh thần, những khiếm khuyết ấy ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận động hay trí tuệ người mắc bệnh.