Chương 1: Một sé vấn dé lý luân vé nhóm LGBT Chương 2: Thực tién bảo vê quyển của nhóm LGBT tại một số quốc. gia trên thể giới Chương 3: Thực trang va hướng hoàn thiên pháp luật Viết Nam nhằm. bao về quyên cia nhóm LGBT. KHÁI QUÁT VE NHÓM LGBT VÀ QUYỀN.
CỦA NHÓM LGBT 1. Khái quát về nhóm LGBT và các hành vi đặc trưng của nhóm LGBT 1. Hệ thong khái niệm về nhóm LGBT và các khái lệm liên quan LLLL Khái niềm clang về nhóm LGBT và sự ra đồi của Rhiái niêm LGBT trên thé giới + Khái niêm về nhóm LGBT LGBT là tên viết tất của công đồng những người đồng tính luyễn ái nữ (Lesbian), đồng tính luyễn ái nam (Gay), song tinh luyén ái (Bisexual) và ‘hoan tính hay còn gọi là người chuyển giới (Transgender). LGBT thể hiện sự da dạng của các nén văn hoá nhân loại dựa trên thiên hướng tỉnh dục va ban dang giới.
Thiên hướng tinh dục của con người được chia thành 3 loại chủ yên: di tính luyén ái, đồng tính luyễn ái và song tinh luyén ái, còn theo ban dang giới thi phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. Trong đó, LGBT la công đồng những người thuộc các thiên hướng tình duc ‘va bản dang giới thiểu số trong xã hội 1 + Khái niêm về tính duc và zu hướng tính dục - Tính duc: là khát niêm bao gồm giới tính sinh học (có cơ thé là ram. hay nữ), bản dạng giới (cảm nhận minh là nam hay nữ), zu hướng tính dục (yêu người cùng giới hay khác giới) va thể hiện giới (1 lên nam tính hay nữ tính) - Mu hướng tính duc: là sự hấp dn tỉnh cảm và thể chất hướng đến người cùng giới, khác giới hoặc cả hai. Từ đó dẫn đền các xu hướng như đông.
tính, di tính, song tính, ps sha cmbeuds hgh gb giang tho le bạn cục bát 151616047131868001, muy cập này 0508016. + Sự ra đời của khái niêm LGBT trên thé giới LGBT là một thuật ngữ tương đổi mới mẽ, bắt đầu được sử dụng từ những năm 1900. Thuật ngữ ban đầu của LGBT chỉ đơn thuân là LGB, xuất hiện từ giữa thập niên 80, chỉ để nói tới 3 dạng giới là Lesbian, Gay va Bisexual Tuy nhiên về sau, thuật ngữ LGBT được sử dung nhiều hon cả. Bởi các nhà hoạt đông công đồng LGBT cho rằng, LGB chưa đủ để đại diện một cách chỉnh xác vả day đủ nhất cho những người trong giới này.
Vi vay, thuật ngữ LGBT bat đầu được sử dụng réng rãi. Thuật ngữ LGBT bắt đâu trở thành một su hướng chủ đạo. Nó đã được các tổ chức và giới truyền thông về giới tính va tinh duc tại Mỹ cứng như một số quốc gia nói tiếng Anh sử dung phổ biển Thuật ngữ LGBT bat đầu lan xông đến hàng chục các quốc gia khác 2 Củng với sự ra đời của khái niêm vẻ LGBT, ngày 17 tháng 5 năm 1990, Tổ chức Y tế thé giới (WHO) đã công bó loại bỏ đông tính luyén ái ra khỏi. danh sách bệnh tâm than, cũng là ngày đã được LHQ chon để trở thành Ngày.
của Giới tính: "Ngày quốc tế chồng kỳ thi, phân biệt đổi xử đổi với người đẳng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) - IDAHO" có tên tiếng Anh đẩy đũ là International Day Against Homophobia and Transphobia 3 1. Khải niệm về giới, giới tính bản dang giới + Khái niêm về giới Giới là khái niêm dùng để chỉ những méi quan hệ sã hội của nam và nữ Khai niêm giới liên quan đến sự học hỏi bảnh vi xã hội va những trông doi được tạo nên với hai giới tính Giới là một sản phẩm của zã hội và liên quan dén quá trình xã hội hoa. ˆMgps/EEnevebuen wUBĐ-leØ:vistoenglduisden.liet-quec2384,mu ‘pe IehtOreinwcoalaprslei-Đmrluevco itca hangcDrt nến bạn duc lm-gii thức 4835 hunl tụy cập ngày 0970672019. * Các đặc điểm của giới.
~ Một phân van bi quy định bởi yêu tổ sinh học của giới tính - Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua qua trình học tập, sã hôi hoa cá nhân. - Đa dang, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nên văn hoa. = Co thể biển đổi. + Khái niêm về giới tính Là khái niêm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ.
Những đặc trưng sinh học dưỡng như là bất biến va dé là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò giới sau nay. Sự chuyển đổi giới tính có thé do sinh hoc, văn hoá, kinh tế * Các đặc điểm của giới tính: - Là đấc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gien qua cơ chế di truyền jdm sinh - Đồng nhất vi đây là sẵn phẩm của sự tiến hoa sinh học nên không phụ thuộc vào không gian va thời gian + Khái niêm về bản dạng giới Là cảm nhận về giới tính mong muốn của một người. Vi vậy, ban dạng. giới không đương nhiên tring với giới tính sinh học va độc lập với zu hướng tính đục 11.
Khái niềm về đẳng tính Inyễn ái (les, gay) Đồng tính luyén ái, gọi tắt 14 đông tính, là thuật ngữ chỉ việc bi hap dan. trên phương diện tinh yêu, tỉnh dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tinh due giữa những người cùng giới tính với nhau trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dai. Với vai trò là một thiên hướng tính dục, đồng tính luyến ái Ja một mô hình bền vững của sự hap dẫn tình cảm, tỉnh yêu, vả/hoặc tinh dục một cách chủ yêu hoặc duy nhất đổi với người cùng giới tính Đẳng tính luyén ái cũng chỉ nhận thức của cá nhân dựa trên những hap dẫn đó va sự tham gia vào một công đẳng có chung điều này. Trong đó, Lesbian là thuật ngữ dùng để chỉ người đồng tính nữ, Gay là thuật ngữ dùng dé chỉ người đồng tinh nam.
Người đồng tinh nữ với giới tính sinh học là nữ, họ nghĩ mình là nữ nhưng lại yêu người cùng giới tính của ‘minh là nữ giới. Tương tự, người đông tinh nam với giới tính sinh học là nam, họ nghĩ mình là nam nhưng yêu người cùng giới tính với mình là nam. Khái niềm về song tính hyễn át (bisexual) Là người cảm thay hap dẫn vẻ tình cảm, thé chất với c người cùng giới và khác giới hoặc không phân biệt giới của họ. Song tinh là một khái niệm chung, bởi giữa từng người song tính khác nhau sẽ rất khác nhau.
Cụ có những người cảm thấy hap dẫn bởi cả nam va nữ có thể không nhất thiết phải nhận dang mình là song tính ~ ho có thé xem mình chủ yếu là đồng tính hoặc dị tính, hoặc họ có thể lựa chọn không gắn bất cứ cái “nhãn” nảo cả. Trong nhiễu trường hợp, một người có thể có cảm xúc hấp dẫn với cả nam va nữ, nhưng chỉ quan hệ tỉnh duc với một giới, hoặc không hé có quan hệ tỉnh dục. Sự hấp dẫn không nhất thiết phải được cân do, cảm xúc với hai giới tính không nhất thiết ngang nhau hoặc tôn tại trong cùng một thời điểm Điều nay phụ thuộc vào những người ma họ tiếp xe, bai cảm xúc luôn la điều phức tạp và không đoán trước được.1 5, Khái niềm về người chuyễn giới (transgender) Là người có giới tính bẩm sinh không trủng với giới tính mong muốn. Chẳng hạn, một người có cơ thể sinh học lả nam nhưng lại nghĩ minh là nữ vả yêu nam giới hoặc ngược lại.
Người chuyển giới không nhất thiết 'phải trải qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Người đã hoàn thiện về giới tính nhưng là người chuyển giới khác với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính (nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng. giới gã nữ hoặc lưỡng giới that) hoặc giới tính chưa được đính hình chính xác (chưa thé phân biết được một người là nam hay nữ xét c& bô phận sinh đục và nhiễm sắc thể giới tinh) và muồn xác định lai giới tỉnh. Nói tom lại, zu hướng tính dục của con người được chia thảnh 3 loại chủ yếu: dj tính luyến ái, đồng tính luyén ai va song tính luyến ai, còn theo.
‘ban dạng giới thi phân thảnh: người chuyển giới và người không chuyển giới. LGBT là một tổ hop từ chỉ một nhỏm người có zu hướng tính dục và ban dang giới khác biệt với số đồng, chiếm thiểu sổ trong xã hôi. Sự khác biệt va tỉ lệ thiểu số không thể hiện su đa dạng của các nên văn hóa nhân loại dựa trên thiên hướng tinh duc va bản dang giới. Lịch sửphái triển của nhóm LGBT trên thé giới Thể kỷ 18 và 19, nhóm LGBT bi coi là lệch lạc, bị lên án, bị cầm theo luật hoặc tập quán truyền thông, nhóm LGBT có thể bị trừng phat, lưu day.
Nhóm LGBT đã bị din áp trong nhiễu thé kỷ, Dẫn ìn, su phát triển của phương tiên truyền thông công công va lý tưởng nhân quyển đã thu hút các nhà hoạt đông từ moi tang lớp nghiền cứu về nhóm LGBT. Đến thể kỹ 20, một phong trảo công nhận người đông tính nam va đồng tính nữ đã được tiền. Hau hét các nh sử học đồng ý ring có bằng chứng về hoạt động đồng tính luyén ái, cho dit các méi quan hệ đó được chấp nhân hay bị dan áp trong ‘moi nên văn hóa. Từ lời bai hat về ham muôn đồng giới được Sappho ghi vào thé kỹ thứ bay trước Công nguyên cho đến những thanh niên được nuôi dưỡng với giới tinh trai ngược trong các nén văn hóa từ Albania đến Afghanistan, từ những "người ching mang giới tinh nữ" của Kenya đến người Mỹ ban địa với “hai tâm hén’ thay thé cho những người di tinh phương 10 ‘Tay phát triển mạnh qua hang thiên niên kỷ.
Những thực tế nảy dan dân được. phương Tây biết đến qua nhật ky của khách du lịch, hỗ sơ của nha thờ vé các nhà truyền giáo, tạp chí của các nhả ngoại giao vả trong các báo cáo cửa các nhà nhân chủng học y tế. Vao thời đại nay, việc chấp nhận người chuyển giới hoặc người song tính luyển ái ở các nén văn minh ban địa khác nhau đã gặp phải sự phản đối của các thực dân châu Âu va Kitô giáo * Thời đại của nghiên cứu vẻ tinh dục học lả nơi chúng ta Kin đầu tiên nhìn thấy một nhóm các cơ quan y tế nhỏ bất đâu nghiên cứu vẻ khả năng chiu dung hạn chế của những người ding tính luyễn ái. Những nghiên cứu ban đâu để iêu phạm vi hành vi tình dục của con người đến từ các bác i vả nhà khoa học phương Tây bao gồm Carl von Hampal (1869), Richard von Krafit-Ebing (1882) và Havelock Ellis (1897).