Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền của người chuyển giới. Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền của người chuyển giới ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp đảm bảo quyền của người chuyển giới ở Việt Nam hiện nay. 8 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI CHUYỂN GIỚI 1.
Một số vấn đề lý luận về chuyển đổi giới tính 1. Khái lược về chuyển đổi giới tính Giới tính (gọi đầy đủ là giới tính sinh học - sex) là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới. Giới tính là những đặc điểm đồng nhất kể từ khi chúng ta sinh ra đến khi trưởng thành và những đặc điểm này không thể thay đổi được. Giới tính và giới là hai thuật ngữ không đồng nhất.
Giới (gender) là sự khác biệt về mặt xã hội để phân biệt giữa nam giới và nữ giới. Nếu giới tính là yếu tố thuộc về mặt sinh học, là sự thể hiện bên ngoài thông qua các bộ phận trên cơ thể thì giới lại là yếu tố thuộc về mặt tâm lý. Giới tính là biểu hiện bên ngoài của giới, dựa vào giới tính để gọi tên giới. Tuy nhiên, không phải lúc nào giới tính và giới đều thống nhất, chính điều này đặt ra nhu cầu chuyển đổi giới tính để sống thực với bản dạng giới của mình chứ không phải giới tính được mặc định dựa vào biểu hiện bên ngoài của cơ quan sinh dục.
Chuyển đổi giới tính (hay được gọi là chuyển giới) là vấn đề xã hội nhưng lại gắn với yếu tố pháp lý (quyền nhân thân) của mỗi người. Chuyển đổi giới tính (gọi tắt là chuyển giới) là thuật ngữ dùng để chỉ sự thay đổi giới tính của một người từ giới tính được xác định về mặt sinh học thể hiện qua cơ quan sinh dục sang giới tính mà người đó mong muốn. Chuyển đổi giới tính bao gồm chuyển đổi một phần hoặc chuyển đổi hoàn toàn, có thể có sự can thiệp của việc tiêm hooc-môn (hormone replacement therapy) hay phẫu thuật chuyển đổi giới tính (sex reassignment surgery). Nhưng việc chuyển giới không nhất thiết lúc nào cũng phải trải qua phẫu thuật, bởi việc phẫu thuật phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, sức 9 z khỏe và nhu cầu cá nhân của từng người có đôi khi chỉ là sự thay đổi về ngoại hình, cách hành xử như giới tính họ mong muốn cũng được gọi là chuyển đổi giới tính.
Nên chuyển đổi giới tính chỉ là sự cảm nhận bên trong về mặt tâm lý đối với giới tính của họ. Vì vậy, việc chuyển giới không gắn liền với sự bất thường của bộ phận sinh dục. Chuyển giới không đồng nhất với đồng tính. Chuyển giới liên quan đến cảm nhận về giới tính để trả lời cho câu hỏi “tôi là ai”, còn đồng tính là khái niệm chỉ sự hấp dẫn của tình cảm “tôi yêu ai”.
Chuyển giới cũng không phải là một dạng rối loạn tâm thần (rối loạn định dạng giới – gender identity disorder). Bởi chỉ coi là rối loạn tâm thần khi một người rơi vào hoàn cảnh đau khổ, cùng cực trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến tính cách của họ. Vì vậy, từ năm 2012, chuyển giới được loại ra khỏi danh sách rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (DSM), có nghĩa là được xem là một tình trạng tâm lý bình thường [7, tr. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc một người muốn chuyển đổi giới tính của mình, như: ảnh hưởng bởi yếu tố sinh học (gen), mức độ nội tiết tố trước khi mang thai, trải nghiệm cuộc sống trước khi trưởng thành… Các nghiên cứu cho thấy, một người chuyển giới thường có cảm nhận về giới tính của bản thân mình từ khá sớm, từ 3-5 tuổi, song việc công khai nhận mình là giới tính khác còn phụ thuộc vào kiến thức của từng cá nhân cũng như sự cởi mở của mỗi xã hội [11, tr.
Vấn đề chuyển giới từ lâu trở thành tranh luận trái chiều tại các quốc gia. Câu hỏi đặt ra là “hợp pháp hóa chuyển giới có dẫn đến phẫu thuật chuyển giới ồ ạt hay lợi dụng việc này để trốn tránh các nghĩa vụ với nhà nước và xã hội hay không” [7, tr. Nhưng thực tế chứng minh tại các quốc gia hợp pháp hóa việc chuyển giới (xem thêm Phụ lục 01 về danh sách các quốc gia hợp pháp hóa việc chuyển giới) đã và sẽ góp phần vào xây dựng tiêu chuẩn và kiểm soát quy trình pháp lý – y tế của hoạt động chuyển giới bằng can thiệp y học. Khái niệm và đặc điểm của người chuyển giới 1.
Khái niệm người chuyển giới Đầu thế kỷ 20, nhà tình dục học nổi tiếng người Đức, Magnus Hirschfeld (1868-1935), khởi xướng hai thuật ngữ “transvestites” (ăn vận cải giới) và transsexuals (chuyển đổi giới tính), và gần đây các nhà nghiên cứu bắt đầu sử dụng thuật ngữ “transgender” với hàm nghĩa rộng hơn với “cross dressing” (mặt khác giới) và được sử dụng khởi đầu từ nước Mỹ khi để chỉ những người có lối sống dường như khác với chuẩn mực về giới trong xã hội. Người chuyển giới bao gồm: người có khác giới tính mong muốn khác với giới tính sinh học; người muốn chuyển đổi giới tính và người đã chuyển đổi giới tính. Tại Việt Nam, thuật ngữ “transgender” mới xuất hiện và gây khó khăn khi sử dụng khi có cách hiểu khác nhau và thường được dung khi nói về người đã thực hiện các hoạt động can thiệp về y học nhiều hơn là chỉ thuần túy người có bản dạng giới khác với giới tính sinh học. Có nhiều cách gọi khi sử dụng thuật ngữ này như người chuyển giới, người xuyên giới, người vượt giới, trong khi thuật ngữ “transsexual” được hiểu thống nhất – người chuyển đổi giới tính (mong muốn thay đổi cơ thể hoặc đã qua phẫu thuật).
Người chuyển đổi giới tính không đồng nhất với người đồng tính. Người chuyển giới là người có mong muốn giới tính khác với giới tính sinh học, trong khi đó người đồng tính (homosexual) là người chỉ bị hấp dẫn bởi người cùng giới tính với mình. Người chuyển giới không nhất thiết phải có sự bất thường về cơ quan sinh dục, không ít người chuyển giới vẫn hoàn chỉnh về cơ quan sinh dục nhưng giới tính sinh học không phù hợp với giới tính mong muốn của mình. Người chuyển giới hoàn toàn độc lập với thiên hướng tình dục, họ có xu hướng tình dục dị tính, đồng tính hoặc song tính.
Người chuyển giới không đồng nhất với người liên giới tính (người 11 z lư ng tính-Intersex). Theo Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) định nghĩa người liên giới tính là những người có sự phát triển không điển hình của các đặc điểm giới tính và sinh lý trên cơ thể. Đây là những người có liên quan những đặc điểm bất thường của bộ phận sinh dục bên ngoài, các cơ quan sinh sản bên trong, nhiễm sắc thể giới tính hoặc các hooc-môn giới tính. Có hai dạng của người chuyển giới: người chuyển giới tính từ nam sang nữ (Male to Female - MTF hay còn gọi là người chuyển giới nữ - là người sinh ra mang giới tính sinh học là nam, nhưng có giới tính tự nhận, mong muốn mình mang giới tính nữ) và người chuyển đổi giới tính từ nữ sang nam (Female to Male – FTM hay còn gọi là người chuyển giới nam - là người sinh ra mang giới tính sinh học là nữ, nhưng có giới tính tự nhận, mong muốn mình mang giới tính nam).
Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới), người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới) và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới) [13, tr. Trước khi có thể định nghĩa về người chuyển giới, cần phải làm rõ các nội hàm của các từ ngữ chuyên ngành như: Bản dạng giới (gender identity) là cảm nhận hoặc trải nghiệm mang tính chủ quan của một cá nhân, cảm thấy mình thuộc về giới nam hay giới nữ. Nói cách khác, bản dạng giới là do cá nhân tự xác định. Thể hiện giới của một cá nhân bao gồm những yếu tố được thể hiện ra bên ngoài như hành vi, quần áo, lựa chọn công việc, quan hệ với các nhân khác và các yếu tố khác.
Hiện nay có hai thuật ngữ khi đề cập đến người chuyển giới là: Người chuyển giới (transgender) là một người được sinh ra với cơ thể sinh 12 z học là nam hay nữ, nhưng có một khát vọng mạnh mẽ và nhất quán là có giới tính khác với giới tinh sinh học của họ lúc sinh. Họ có thể trải qua hoặc không trải qua việc điều trị y tế để chuyển đổi sang bản dạng giới họ chọn [12, tr. Người chuyển đổi giới tính (transsexual) là người đã trải qua phẫu thuật để đạt đến sự trùng khớp giữa cơ quan sinh dục và bản dạng giới thực sự trong não của họ. Như vậy, những người chuyển giới là những người có bản dạng giới, thể hiện giới không giống với những chuẩn mực tương ứng với giới tính sinh học của họ.
Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) thì tại Việt Nam, khái niệm người chuyển giới được hiểu theo nghĩa là người chuyển đổi giới tính (transsexual) là cá nhân đã chuyển đổi giới tính (đã làm phẫu thuật bộ phận sinh dục phù hợp với bản dạng giới). Đặc điểm của người chuyển giới Tại Việt Nam, những vấn đề liên quan đến nhóm LGBT nói chung và người chuyển giới nói riêng là chủ đề nhạy cảm và mới được quan tâm gần đây của cộng đồng, dư luận xã hội. Tuy nhiên, những kiến thức về nhóm người LGBT chỉ giới hạn trong các phóng sự, bài viết ngắn và ở các công trình khoa học lớn thì chỉ người nghiên cứu hay những người làm việc trong các tổ chức về nhóm người LGBT mới quan tâm. Dưới đây hai đặc điểm cơ bản của người chuyển giới để phân biệt với các nhóm khác trong cộng đồng LGBT.
Thứ nhất, người chuyển giới là người được sinh ra với một giới tính sinh học bình thường, hoàn chỉnh (phân biệt rõ nam hay nữ) nhưng lại có cảm nhận và mong muốn giới tính của mình (bản dạng giới) không trùng với giới tính sinh học đang có (đây là điểm phân biệt với người liên giới tính). Thứ hai, yếu tố phẫu thuật chuyển đổi giới tính không phải là dấu hiệu bắt buộc để được xem là người chuyển giới mà là bản dạng giới.