CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC KHÔNG AI BỊ KẾT ÁN HAI LẦN VÌ MỘT TỘI PHẠM 1. Cơ sở lý luận về nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm 1. Các khái niệm liên quan Khi xã hội ngày càng dân chủ, càng phát triển và tiến bộ, thì vấn đề bảo vệ quyền con người càng được đề cao. Đặc biệt trong pháp luật hình sự, quyền con người càng phải được chú trọng.
Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, hay còn gọi là nguyên tắc ne bis in idem hoặc nguyên tắc double jeopardy2, từ lâu được xem là một trong những nguyên tắc cốt lõi để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội trong các VAHS. Nguyên tắc này có nguồn gốc từ luật La Mã cổ và sau đó được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật quốc tế và Hiến pháp của nhiều quốc gia. Bộ luật Hammurabi vào thế kỷ 19 trước công nguyên đã có những quy định nhằm cấm các thẩm phán thay đổi bản án3. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã quy định: “Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục TTHS của mỗi nước”4.
Tại Điều 20(3) Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN (2012) đã ghi nhận: “Không ai bị đưa ra xét xử hay trừng phạt vì một hành vi đã bị kết án hay tha bổng theo luật và thủ tục TTHS của mỗi quốc gia thành viên ASEAN”. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 21 tháng 6 năm 1788, đã đề cập đến nguyên tắc này tại tu chính án5 thứ V, rằng “không một ai bị xét xử hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể”6, đây là một trong mười tu chính án đầu tiên được thông 2 Nguyễn Thị Phương Hoa – Vũ Thị Thúy (2014), “Triển khai quy định không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” của Hiến pháp năm 2013 trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 02/2014, tr. Thomas, III (2018), “Double Jeopardy”, https://www.com/social-sciences-and- law/law/law/double-jeopardy, truy cập ngày 21/6/2021. 4 Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
5 Tu chính án: “Trong Từ điển tiếng Việt bản mới nhất (Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2021) chỉ có từ tu chính (nghĩa Hán Việt, tu: sửa, chính: đúng) có nghĩa là "sửa sang lại cho đúng". Đây là một từ cũ, chỉ dùng trong phạm vi hẹp. Tu chính án là một kết hợp 3 thành tố (án: văn kiện, ở đây dùng chỉ "hiến pháp"), có nghĩa là "sửa đổi lại hiến pháp". 6 Văn phòng Quốc hội, Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học (2009), Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới, Hà Nội, NXB Thống kê, tr.
9 qua trong Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 12 năm 1791. Có thể thấy, nguyên tắc này đã tồn tại rất lâu trong pháp luật Hoa Kỳ. Trong Hiến pháp nước Cộng hòa Liên bang Nga được thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã quy định nguyên tắc này: “Không ai có thể bị kết án lại cho cùng một tội. Nhìn chung, nguyên tắc này không còn xa lạ đối với một số quốc gia trên thế giới.
BLTTHS năm 2003 đã từng đề cập đến nội dung nguyên tắc này như là một trong các căn cứ không khởi tố VAHS. Nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt thực tiễn cũng như trên cơ sở quy định pháp luật quốc tế, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận quyền không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một quyền cơ bản của con người8. Sau đó, BLTTHS năm 2015 một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của nguyên tắc bằng cách cụ thể hóa quy định này tại Điều 14: “Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.” Nhằm tìm hiểu định nghĩa của nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, trước hết cần phải hiểu định nghĩa của những thuật ngữ liên quan. Khái niệm “nguyên tắc”, “nguyên tắc của TTHS”, “nguyên tắc cơ bản của luật TTHS” Cụm từ “nguyên tắc” được kết hợp bởi từ “nguyên” có nghĩa là gốc, những điều được xem là nền tảng, nguyên thủy; và từ “tắc” là phép tắc, những điều cần phải được tuân thủ.
Theo Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học soạn thảo thì từ “nguyên tắc” có thể được giải thích một cách ngắn gọn hơn là “điều cơ bản được định ra, nhất thiết phải tuân thủ theo trong một loại việc làm”9. Như vậy, nguyên tắc có thể được hiểu là những điều cơ bản được quy định nhằm chỉ đạo cho một hoặc một số hành động nào đó và bắt buộc phải được tuân thủ, không được làm trái, trừ các trường hợp ngoại lệ. Trong pháp luật TTHS, nguyên tắc mang tính định hướng cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật, thể hiện đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước trong 7 Khoản 1 Điều 50 Hiến pháp Cộng hòa liên bang Nga năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). 8 Khoản 3 Điều 31 Hiến pháp năm 2013.
9 Viện ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. 10 việc bảo về quyền con người. Trong sách “Tội phạm học, Luật hình sự và TTHS”, tác giả Trần Đình Nhã có ý kiến rằng “khi bàn về các nguyên tắc của TTHS Việt Nam, đa số các tác giả đều hàm ý: đó là những nguyên tắc cơ bản, chi phối hoặc là tất cả các giai đoạn, hoặc chí ít cũng là một số giai đoạn quan trọng của TTHS” và “các nguyên tắc của TTHS Việt Nam là những chế định pháp lý, được thể hiện bởi những qui phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất của TTHS và mang tính định hướng cho hoạt động và hành vi TTHS”10. Tác giả Phạm Hồng Hải định nghĩa “nguyên tắc TTHS Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về quá trình giải quyết VAHS đã được thể chế hoá trong BLTTHS mà các cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuân theo”11.
Theo quan điểm của tác giả Lê Cảm, “Nguyên tắc của luật TTHS là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật TTHS, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua một hay nhiều qui phạm (chế định) của nó - của nguyên tắc tương ứng mà ta nghiên cứu”12. Trong các định nghĩa đã được đề cập, có tác giả sử dụng thuật ngữ “nguyên tắc của TTHS”, cũng có tác giả dùng từ “nguyên tắc của luật TTHS”. Đối với vấn đề này, tác giả Trần Đình Nhã cho rằng không có nguyên tắc của luật TTHS mà chỉ có nguyên tắc của TTHS, tuy nhiên tác giả Phạm Hồng Hải không đồng tình với quan điểm đó và cho rằng “khi nguyên tắc qui định trong BLTTHS thì phải coi chúng là những nguyên tắc của TTHS, ngoài ra nếu các tư tưởng, quan điểm nào đó là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo của luật TTHS thì chúng cũng đồng thời là các nguyên tắc của luật TTHS”13. Đối với hai quan điểm trên, tác giả đồng ý với ý kiến thứ hai rằng cả hai thuật ngữ “nguyên tắc của TTHS” hay “nguyên tắc của luật TTHS” đều đúng.
TTHS là trình tự, thủ tục giải quyết VAHS, là toàn bộ hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền THTT, người tham gia tố 10 Đào Trí Úc (1994), Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội được dẫn chiếu tại “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung” – Nguyễn Ngọc Chí (2008), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008), tr.240 11 Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, được dẫn chiếu tại “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung” – Nguyễn Ngọc Chí (2008), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008), tr.240 12 Lê Văn Cảm, “Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định các nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, 6, 7 (2004) 12, 12, 144, được dẫn chiếu tại “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung” – Nguyễn Ngọc Chí (2008), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008), tr. 13 Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008), tr. 11 tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác góp phần giải quyết đúng VAHS. Luật TTHS được hiểu là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Như vậy, những nguyên tắc được quy định trong BLTTHS là nguyên tắc của luật TTHS, đồng thời chúng cũng đóng vai trò chi phối các hoạt động TTHS nên cũng được xem là nguyên tắc của TTHS. Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một nguyên tắc cơ bản của TTHS được quy định tại Chương II BLTTHS năm 2015. “Những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là một chế định rất quan trọng và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quy phạm trong BLTTHS”14. Nguyên tắc cơ bản của TTHS gồm 5 đặc điểm sau15: (1) Nguyên tắc cơ bản của TTHS là những tư tưởng mang tính xuất phát điểm, có tính chủ đạo định hướng của đảng và nhà nước ta cho toàn bộ hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật TTHS; (2) Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS chi phối toàn bộ hoặc một số giai đoạn TTHS.