Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE VIỆC BAO VỆ CÁC QUYEN CON NGƯỜI BANG CHE ĐỊNH NHỎ VE MIEN CHAP HANH HÌNH PHAT THEO LUAT HINH SU VIET NAM 1. Khai niệm va các đặc điểm co bản của quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Về quyền con người, trong số các quan niệm, có hai quan niệm chu yếu và khác nhau trong lich sử nhân loại phải ké đến đó là [42, tr.39- 41]: Mỗi con người là một thực thé tự nhiên, vi thế, quyền con người cũng là quyền tự nhiên, là quyền bam sinh và là quyền vốn có. Day là quan niệm thứ nhất.
Trong khi đó, quan niệm thứ hai cho rằng con người là thực thể xã hội, vì thế nó cũng mang tính xã hội, và nó phải phụ thuộc vao chế độ kinh tế, chính trị và xã hội. Như vậy, theo quan niệm thứ nhất, các quyền này gắn với cá nhân, được khăng định và ghi nhận ngay từ khi sinh ra và không phụ thuộc vào luật pháp. Quan niệm này làm nỗi bật lên giá trị nhân đạo đó là bảo vệ con người trước quyền lực. Day là biểu hiện tích cực trong nhận thức về quyền con người.
Tuy nhiên, điểm hạn chế đó là quyền con người được tuyệt đối hóa, quyền cá nhân được dé cao trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội. Do vậy coi quyền con người là tự nhiên sẽ là phiến diện, là chưa đầy đủ. Trong khi đó, quan niệm thứ hai thể hiện mặt tích cực ở chỗ coi quyền con người có tính lịch sử. Quan niệm này đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, quan niệm này lại phủ nhận hoàn toàn quyền tự nhiên của con người. Coi quyền con người hoàn toàn phụ thuộc và do Nhà nước định đoạt, đó là mặt tiêu cực của quan điểm nảy. Quan niệm biện chứng của Học thuyết Mac - Lénin đã khăng định con 12 người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội đã khắc phục được tính phiến diện trong nhận thức về con người và quyền con người ở các quan niệm nêu trên. Về bản chất, quyền con người bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội bởi lẽ mặt xã hội có trong cái tự nhiên, mặt tự nhiên có trong cái xã hội của con người.
Vì thế, cho phép, ngay từ khi sinh ra, vì lý do đơn giản là con người - tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, dia vi xã hội. Đây là nội dung quan trọng của quyền con người. “Nhân quyền” chính là “quyền con người” [65, tr. Định nghĩa này được Liên hợp quốc (đặc biệt là Văn phòng Cao ủy về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) phát triển với những nội dung gồm [81, tr.1]: đảm bảo pháp lý toàn cầu (Universal legal guarantees), nhằm bảo vệ các cá nhân/các nhóm chống lại những Actions (hành động) hoặc Omissons (sự bỏ mặc) làm tôn hại đến nhân pham, những Entitlements (được phép) và Fundamental freedoms (tự do cơ bản) của con người.
Tuyên ngôn 1948 về nhân quyền, Liên hợp quốc đã khang định, tại mục Lời nói đầu, bảo vệ các quyền con người phải băng pháp luật là điều cốt yếu [59, tr. Hiến chương Liên hợp quốc tiếp tục khang định giá trị quyền con người với nội dung về quyền bình đăng, cho mọi thành viên trong gia đình, nhân loại, không ai có thể xâm phạm. Và chúng được thực hiện trên cơ sở không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hay giới tính. Có thé thấy rằng, Tuyên ngôn 1948 về quyền con người là Văn kiện pháp lý quốc tế quan trong.
Văn kiện này đã xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đây và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới và tại Việt Nam. Trên cơ sở thừa nhận đó, việc cam kết đảm bảo thực hiện quyền con người tại quôc gia mình được các quôc gia cam kết triên khai thực hiện. 13 Ở nước ta, các quan điểm, định hướng về quyền con người, quyền công dân được Đảng ta đúc rút từ lịch sử, tổng kết từ truyền thống văn hóa và dan tộc. Những quan điểm đó được xây dựng trên nên tảng lý luận của chủ nghĩa Mác — Lénin, được vun đắp bởi tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, thực tiễn và những yêu cầu đặt ra trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, đề cao quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Dang. Văn kiện này tiếp tục được khăng định với nhiều điểm mới, phù hợp với bối cảnh mới của tình hình trong nước và quốc tế. Trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIII của Đảng nhất quan quan điểm, định hướng tiếp cận vấn đề quyền con người gắn với quyền dân tộc tự quyết đã được thê hiện trong các Văn kiện qua các kỳ Đại hội của Đảng trước đây, đặc biệt là trong Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền, bao gồm: (i) Mục tiêu hướng tới là bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của nhân dân. (ii) quyền con người là quyền năm trong phạm vi chủ quyền quốc gia, và gan VỚI quyền dân tộc cơ bản.
(11) mục tiêu, bản chất, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa chính là quyền con người; (iv) vì quyền con người mà chúng ta chủ động, tích cực hợp tác đồng thời sẵn sàng đối thoại, đồng thời chúng ta kiên quyết dau tranh trong quan hệ quốc tế [1, tr.4] “Chiến lược tư pháp, cải cách tư pháp ” gan với “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, cụ thê trong việc “Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiêm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tô tụng tư pháp; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định; phòng ngừa 14 và đầu tranh có hiệu quả với hoạt động cua tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật” theo tinh thần của Dai hội Dang XIII đã được nghiên cứu, ban hành [29, tr. 177-178] Trên cơ sở đó, các văn bản pháp luật về bảo vệ quyền con người Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện từng bước, song song với đó là “chăm lo cho con người, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mọi người ” [29, tr. Đặc biệt, cùng với các quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, vấn đề tôn trọng, bảo vệ quyền con người ngày càng được khang định, thay vi lồng ghép các nội dung về quyền con người vào quyền công dân như các bản Hiến pháp trước đây. Chương II quy định rõ về “Quyển con người, Quyên và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được thiết kê riêng trong Hiến pháp Việt Nam 2013, đã thê hiện sự quan tâm đối với van dé quan trọng nay của Dang, Nhà nước ta.
Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể nên nó luôn đi cùng với sự phát triển của nhân loại, đặc biệt trong những năm gần đây vấn đề bảo vệ quyền con người luôn là van đề nóng được cả thé giới quan tâm. Nhiều nha khoa học trong nước như: GS.TSKH Lê Văn Cảm, GS.TS Trần Ngọc Đường, PGS.TS Nguyễn Văn Động, TS. Trần Quang Tiệp, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí có những quan điểm về bảo vệ quyền con người như sau: Khái niệm quyền con người: Là một phạm trù lịch sử - cụ thé là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ băng pháp luật bởi các quốc gia - Thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [20, tr.TSKH Lê Văn Cảm.TS Trần Ngọc Đường tiếp cận quan niệm nhân quyên trên cơ sở: 15 Khang định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền con người, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thé của quyền con người thuộc một quốc gia, một dan tộc [33, tr. Trong khi đó, một số quan điểm về quyền con người được đưa ra bởi PGS.TS Nguyễn Văn Động [32, tr.52-53] bao gồm nhu sau: được thừa nhận chung bởi toàn thế giới, gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế; tạo thành một hệ thống thong nhat, tac động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau.
“Quyển con người” do TS. Trần Quang Tiệp định nghĩa là “nhitng đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được huởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [49, tr. Trong khi đó, quyền con người theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí thì quyền con người nói chung và trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, là tiền đề để quyền con người được bảo đảm thực thi trong đời sống. Các quy định của luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự đó cho phép Nhà nước trao cho con người những phương tiện cần thiết để bảo vệ các quyền của minh và những cách thức nhăm thiết lập các cơ chế dé giải quyết, đảm bảo các quyền của các chủ thể [23, tr.
Như vậy, vấn đề trung tâm đã và đang được quan tâm đó là bảo vệ các quyền con người. Điều này có ý nghĩa thời đại vì tinh lịch sử, tính thời sự quốc té. Điều này còn có ý nghĩa hơn bởi đó là các mực tiêu cơ bản trong cuộc đấu tranh của các dân tộc va là mối quan tâm thường xuyên của nhân loại tiễn bộ, trên toàn trái đất [18, tr. Các đặc điểm cơ bản của quyền con nguoi Quan điểm của Dang và Nhà nước ta về quyền con người đã được thé hiện rất rõ ràng “Quyên con người là sự kết tỉnh những giá trị cao đẹp nhất trong nên văn hoá, là thành qua của cuộc dau tranh lâu dai, gian khô của ca 16 nhân loại nhằm cải tạo xã hội và thiên nhiên, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bat công” [58, tr.
Như vậy, đây là một van đề đã được dé cập từ lâu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.