Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VA QUY DINH CUA BO LUAT HINH SU VE TOI SAN XUAT, TANG TRU, VAN CHUYEN, BUON BAN HANG CAM 1. Một số van dé lý luận về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hang cam 1. Khái niệm các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cắm Dưới góc độ lý luận, tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, cũng như xã hội phân chia thành giai cấp đối khang.34] Vì vậy, dé bảo vệ quyên lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nao là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi đó. Dưới góc độ pháp luật, theo quy định pháp luật hình sự hiện hành thì: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyên, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [23].
Vì vậy, trên cơ sở quan niệm, quy định nêu trên, có thé thấy rang việc xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyên, buôn bán hàng cấm cần căn cứ vào khách thé mà các hành vi này xâm hại và các yếu tô cau thành tội phạm của các hành vi đó. Thực tế pháp luật ghi nhận “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [31, Điều 33] nhưng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, bên cạnh những hành vi kinh doanh hợp pháp thì cũng còn những hành vi kinh doanh bất hợp pháp, trong đó có các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cấm bị coi là tội phạm. Theo giải nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì cắm là: không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép tồn tại [58, tr 117]. Hang cắm trước tiên phải hiểu là một dạng hàng hóa.
Theo từ điển Tiếng Việt: hàng hóa được coi là sản pham do lao động làm ra, dùng dé buôn bán trên thị trường [58, tr 405]. Theo định nghĩa này thì hàng hóa phải đáp ứng đủ hai điều kiện: một là sản phẩm do lao động làm ra, hai là sản phâm đó phải dùng vào mục đích buôn bán trên thị trường. Tuy nhiên mỗi loại hàng hóa có những đặc tính riêng. Có những loại hàng hóa có tính chất đặc biệt mà việc sản xuất, lưu thông, sử dụng các loại hàng hóa đó trên thị trường gây tác động tiêu cực đến con người, môi trường và xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng, chính tri, kinh tẾ, xã hội, truyền thong văn hóa dân tộc, môi trường va sức khỏe của người dan thì Nhà nước quy định không được sản xuất, lưu thông, kinh doanh, sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam.
Những loại hàng hóa này được liệt kê trong danh mục cam cá nhân, tổ chức tự do buôn bán và được gọi ngắn gọn là hàng cắm. Theo từ điển luật học: hàng cam là hang hóa Nhà nước cam kinh doanh [56, tr 110]. Như vậy, theo quan điểm của tác giả: hàng cẩm là những loại hàng hóa mà Nhà nước cam sản xuất, cam kinh doanh, cắm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam, được liệt kê cụ thể trong danh mục cắm cá nhân, tổ chức tự do sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán. Mặc dù hiện nay chưa có quy định rõ ràng về hoạt động sản xuất, tang trữ, vận chuyên, buôn bán hang cắm nhưng từ quy định pháp luật hình sự và thực tiễn xử lý các hành vi này, có thể thấy răng các hành vi này xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại.
Theo quy định tại Điều 190 và Điều 191 BLHS năm 2015, thì người nào hoặc pháp nhân nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyên, buôn bán hàng cấm với số lượng hoặc giá trị nhất định hay đã bị xử phạt hành chính về một số hành vi được quy định tại một số điều của BLHS thì xử lý theo các chế tài hình sự là phạt tiền, phạt tù, cắm kinh doanh, cắm hoạt động, đình chỉ hoạt động. [35, Điều 190, Điều 191] Dựa trên những phân tích trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể đưa ra khái niệm: Các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bản hang cắm là hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua hoặc ban những hàng hóa mà Nhà nước cẩm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc do pháp nhân thương mại thực hiện một cách co y, xâm phạm quan hệ xã hội VỀ trật tự quản lý kinh té. Ý nghĩa của việc quy định các tội sản xuất, tang trữ, vận chuyễn, buôn bán hàng cắm Việc quy định các tội sản xuất, tang trữ, vận chuyền, buôn bán hang cấm có những ý nghĩa sau: Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống sản xuất, tang trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cam. Đạo luật hình sự giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội sản xuất, tang trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cấm nói riêng, bởi vì chỉ văn bản này mới quy định hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cắm là tội phạm và hình phạt có thể áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân đã gây ra hành vi đó.
Việc Nhà nước quy định các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cấm và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội là nhân danh ý chí của nhân dân, là 10 sự thê hiện thái độ của nhân dân (thông qua Nhà nước đối với tội phạm). Quy phạm pháp luật hình sự về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm vừa có tính chất cắm chỉ, vừa có tinh chất bắt buộc. Quy phạm này, một mặt cắm người ta không được thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cấm bằng sự ran đe áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Mặt khác, quy phạm pháp luật hình sự này cũng buộc các cơ quan có trách nhiệm khi phát hiện có dấu hiệu của các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyên, buôn bán hang cam, thì phải xét xử một cách nghiêm minh, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự [19, tr.
Thứ hai, gop phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cắm góp phần quan trọng trong việc lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh của các cá nhân, pháp nhân, đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gin an ninh trật tự, an toàn xã hội [19, tr. Tuy nhiên, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan có thâm quyền phải áp dụng đúng đắn những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm nói chung, các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cắm nói riêng trong hoạt động xét xử. Việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cam một cách tùy tiện, không đúng pháp luật, bi coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi nó không những xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Do vậy, việc quy định một cách chặt chẽ các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cam trong pháp luật hình sự và việc áp dụng đúng đắn nó trong thực tiễn, thé hiện sự ton 11 trọng quyền con người của Nhà nước ta, bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử nói chung và xét xử các tội sản xuất, tang trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cắm nói riêng. Phân biệt các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm với các tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới 1. Phân biệt các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cam với tội buôn lậu Tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 BLHS năm 2015 sửa đôi, bồ sung năm 2017. Về dấu hiệu pháp lý hai tội này giống nhau về chủ thé của tội phạm (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) và mặt chủ quan của tội phạm (tội phạm được thực hiện do lỗi cô ý trực tiếp và vì mục đích vụ lợi).
Khách thé va mặt khách quan là hai yếu tố dé phân biệt sự khác nhau giữa ba tội này [35]. Khách thê của tội buôn lậu là vi phạm các quy định pháp luật của Nhà nước về buôn bán hàng hóa qua biên giới hoặc buôn bán trong nước nhưng từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại từ nội địa vào khu phi thuế quan. Đối tượng tác động của các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán hàng cắm là hàng cam. Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý.
Như vậy đối tượng tác động của tội buôn lậu rộng hơn so với đối tượng tác động của các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn ban hang cam. Đối tượng tác động cũng là dấu hiệu rõ ràng dé phân biệt giữa hai tội này [35]. Mặt khách quan của tội buôn lậu thé hiện ở hành vi mua bán qua biên giới từ hoặc từ khu phi thuế quan vảo nội địa hoặc từ nội địa vào khu phi thuế quan các đối tượng nêu trên. Tội buôn lậu hoàn thành kế từ khi thực hiện hành vi vận chuyền các đối tượng tác động nêu trên qua biên giới, qua khu phi thuế quan.