Tổng quan luận án

Quyền tự do, dân chủ của công dân là những quyền cơ bản của con người, đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc, Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được thể chế hóa xuyên suốt qua các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tăng cường hội nhập quốc tế (đặc biệt khi Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc khóa 68 ngày 12/11/2013), việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân bằng pháp luật hình sự là đòi hỏi khách quan và cấp thiết.

Về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định một chương riêng về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân gồm 10 điều (từ Điều 119 đến Điều 128). Đến Bộ luật hình sự năm 1999, nhóm tội phạm này tiếp tục được quy định tại Chương XIII gồm 10 điều (từ Điều 123 đến Điều 132). Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 được thông qua ngày 19/6/2009, Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) được chuyển sang Chương XVI (thành Điều 170a), Chương XIII còn lại 09 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132).

Qua hơn 13 năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 (từ ngày 01/7/2000), các quy định pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Từ năm 2006 đến tháng 6/2013, các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã điều tra, truy tố, xét xử 1.111 vụ án với 2.912 bị cáo. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý còn chưa kịp thời, mức hình phạt luật định chủ yếu dưới 7 năm tù dẫn đến việc áp dụng hình phạt trên thực tế còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe; nhiều hành vi nguy hiểm mới phát sinh chưa được hình sự hóa. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 được thông qua đã ghi nhận quyền con người bên cạnh quyền công dân tại Chương II, đòi hỏi các quy định của Bộ luật hình sự phải được sửa đổi, bổ sung tương ứng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.

Mục đích nghiên cứu của luận án là bổ sung lý luận, làm rõ thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; trên cơ sở đó đề xuất nội dung hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ; phân tích ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này. Làm rõ quá trình phát triển các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn và nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm.
  2. Đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân ở nội dung thể hiện và mức độ đáp ứng yêu cầu lý luận (cơ sở, hình thức trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu định khung hình phạt).
  3. Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này tại Việt Nam giai đoạn 2006 - tháng 6/2013 (có so sánh với giai đoạn 2000 - 2005), chỉ ra hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân cơ bản.
  4. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ dưới góc độ khoa học luật hình sự bao gồm cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, cơ sở và hình thức trách nhiệm hình sự, cấu thành tội phạm và hình phạt đối với nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và đối chiếu với tinh thần Hiến pháp năm 2013;
  • Về không gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước tại các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam; tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự của Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ, Úc;
  • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật từ năm 2006 đến tháng 6/2013, có so sánh đối chiếu với giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm:

Các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hiền (2008) về bảo vệ quyền con người trong luật tố tụng hình sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh (2010) về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong luật hình sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Lê Thiết Hùng (2011) về Tội xâm phạm chỗ ở của công dân trong luật hình sự Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Phạm Mạnh Hùng về chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam (2008) về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Chí (2000) về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu.
  • Nhóm giáo trình, tài liệu đào tạo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2005, 2007); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001, 2003, 2007); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật - Đại học Huế (2003).
  • Nhóm sách chuyên khảo và bình luận khoa học: "Quyền lực nhà nước và quyền công dân" của Đinh Văn Mậu (2003); "Dân chủ và pháp luật dân chủ" của Ngô Huy Cương (2006); "Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người" của Tường Duy Kiên (2006); "Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Trần Quang Tiệp (2004); các bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Trần Văn Luyện (2001) và Nguyễn Đức Mai (2010); "Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự" (2000) và "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)" (2005) của Lê Văn Cảm; "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" của Nguyễn Ngọc Hòa (2001); "Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" của Lê Cảm, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Tiến Việt (2005).
  • Nhóm bài viết tạp chí chuyên ngành: Đỗ Đức Hồng Hà (2001) về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Lê Văn Luật (2007) về Điều 123 BLHS 1999; Trịnh Tiến Việt và Nguyễn Thị Thanh (2011) về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh (2010) về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ trong luật hình sự Nga, Trung Quốc, Thụy Điển; Trịnh Tiến Việt (2007, 2012) về khía cạnh pháp lý hình sự và Điều 124 BLHS 1999; Lê Minh Thông (1998) về quyền con người và dân chủ; Lê Cảm (2005) về so sánh luật hình sự Châu Âu; Lê Thị Sơn (1996, 1997, 2002) về cơ sở trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và chuẩn bị phạm tội.
  • Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (2009) và sách chuyên khảo (2010) do Trịnh Tiến Việt chủ biên: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam".
  • Các công trình đã công bố của tác giả luận án: "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân" (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21/2012) và "Một số kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân" (Tạp chí Kiểm sát, số 18/2012).

Các công trình nghiên cứu ngoài nước:

  • Tác phẩm lý luận kinh điển và báo cáo quốc tế: "On liberty" của John Stuart Mill (1859, bản dịch tiếng Việt năm 2005); "Human Rights: Question and Answers" (2006); "Introducing Democracy 80 Question and Answers" của David Beetham và Kevin Boyle (UNESCO, 2009); "Principles of the Rule of Law" (2003, dịch 2004); "Report on Human Rights and Democracy 2012" của Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh (2013); các báo cáo về nhân quyền tại Úc (2002), Triều Tiên (Amnesty International 2006, Jiyoung Song 2006, Hội đồng Nhân quyền LHQ 2012).
  • Công trình về tội phạm bầu cử: "Prosecution of Electoral Fraud Under United States Federal Law" của Craig C. Donsanto (Bộ Tư pháp Hoa Kỳ); "Assessing Electoral Fraud in New Democracies: A New Strategic Approach" của Staffan Darnoff (IFES, 2011).
  • Công trình về bảo vệ quyền phụ nữ và bình đẳng giới: "Handbook for Legislation on Violence Against Women" (2010) và "Ending Violence Against Women: From Words to Action" (2006) của Liên hợp quốc; "Crime Against Women" của Quốc hội Ấn Độ (2013); "The Role of Men and Boys in Achieving Gender Equality" (2006).
  • Công trình về tự do báo chí và quyền riêng tư: "The First Amendment Handbook" của Lucy A. Dalglish và Gregg P. Leslie (2011).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây trong nước chủ yếu tập trung phân tích từng tội danh đơn lẻ hoặc bình luận dấu hiệu cấu thành tội phạm nói chung; số liệu thực tiễn dừng lại ở giai đoạn 2000 - 2008. Chưa có công trình chuyên sâu nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện về chế định trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này (bao gồm cơ sở, hình thức trách nhiệm hình sự, dấu hiệu định khung, hình phạt áp dụng); chưa có công trình nào đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 2006 - tháng 6/2013 gắn với việc đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự trên cơ sở thể chế hóa quy định về quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết và văn kiện chỉ đạo:

  • Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người, thể hiện qua Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư và Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
  • Lý luận về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ; tư tưởng triết học của Hegel về tự do; Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế liên quan.
  • Lý thuyết về tội phạm và trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự: các yếu tố cấu thành tội phạm, khái niệm trách nhiệm hình sự theo nghĩa tổng thể và nghĩa trực tiếp, quá trình tội phạm hóa - phi tội phạm hóa, hình sự hóa - phi hình sự hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm pháp luật: Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua các giai đoạn phát triển.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định pháp luật hình sự Việt Nam với quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ trong pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
  • Phương pháp thống kê tư pháp: Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu xét xử về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trên phạm vi toàn quốc từ năm 2006 đến tháng 6/2013, đối chiếu với giai đoạn 2000 - 2005.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn và phỏng vấn chuyên gia: Khảo sát thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng; phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, luật sư; tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và giảng viên luật hình sự.

Nguồn tư liệu, dữ liệu:

  • Văn bản lập hiến và lập pháp: Các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013); các Sắc lệnh thời kỳ kháng chiến; Bộ luật hình sự năm 1985; Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009); Bộ luật tố tụng hình sự; các văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo thống kê số liệu án hình sự thụ lý, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của các cơ quan tiến hành tố tụng trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2006 - tháng 6/2013 (tổng số 1.111 vụ án và 2.912 bị cáo).
  • Tài liệu học thuật: Sách chuyên khảo, giáo trình đại học, kỷ yếu hội thảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài báo khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Tác giả điểm lại các luận án, luận văn, giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Huế; các công trình chuyên khảo của Đinh Văn Mậu, Ngô Huy Cương, Tường Duy Kiên, Trần Quang Tiệp, Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Hòa, Trịnh Tiến Việt; cũng như các nghiên cứu quốc tế của John Stuart Mill, Craig C. Donsanto, Staffan Darnoff, Lucy A. Dalglish, Gregg P. Leslie và các tài liệu của Liên hợp quốc.

Chương này rút ra nhận định: các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết đồng bộ chế định trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này, số liệu thực tiễn chỉ giới hạn đến năm 2008 và chưa phản ánh tinh thần Hiến pháp năm 2013. Từ đó, tác giả xác định các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu gồm: xây dựng khái niệm khoa học, làm rõ quá trình phát triển lập pháp, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng giai đoạn 2006 - tháng 6/2013, và kiến nghị hoàn thiện pháp luật gắn với Hiến pháp năm 2013.

Chương 2: Một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Khái niệm quyền tự do, dân chủ và phân loại quyền: Luận án phân tích mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và quyền tự do, dân chủ; phân chia quyền tự do, dân chủ thành 3 nhóm: nhóm quyền dân chủ về chính trị (tham gia quản lý nhà nước, bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo); nhóm quyền dân chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội (lao động, kinh doanh, học tập, sở hữu, bình đẳng nam nữ); nhóm quyền tự do cá nhân (ngôn luận, báo chí, đi lại, cư trú, tín ngưỡng, tôn giáo, bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, thư tín). Luận án cũng chỉ rõ điểm mới của Hiến pháp năm 2013 khi phân định quyền con người (áp dụng cho mọi người) và quyền công dân (áp dụng cho công dân Việt Nam).
  • Khái niệm tội phạm: "Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân mà Hiến pháp ghi nhận, được quy định trong Bộ luật hình sự."
  • Khái niệm trách nhiệm hình sự: "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là hậu quả pháp lý bất lợi buộc người có hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân phải gánh chịu theo quy định của các chế tài hình sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng."
  • Đặc điểm của trách nhiệm hình sự: Gồm 4 đặc điểm chung (phát sinh trong quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội; thể hiện qua biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính pháp lý; là trách nhiệm cá nhân trực tiếp trước Nhà nước; thực hiện chủ yếu bằng hình phạt) và 2 đặc điểm riêng (tính biến đổi "động" theo điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ; gắn liền với chế độ chính trị và thể chế bảo đảm quyền cơ bản).
  • Ý nghĩa: Phân tích ý nghĩa việc quy định trách nhiệm hình sự trên 3 bình diện: chính trị - xã hội, lập pháp và thực tiễn.
  • Quá trình phát triển lập pháp: Khái quát các quy định từ sau năm 1945 qua các sắc lệnh, Bộ luật hình sự năm 1985 (Chương III gồm 10 điều) và Bộ luật hình sự năm 1999 (Chương XIII gồm 10 điều, sau năm 2009 còn 9 điều).
  • Pháp luật quốc tế: Nghiên cứu quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ trong pháp luật hình sự một số quốc gia (Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản), rút ra bài học về kỹ thuật lập pháp, mở rộng đối tượng bảo vệ và đa dạng hóa chế tài.

Chương 3: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng

Chương 3 phân tích thực trạng pháp lý và thực tiễn thi hành:

  • Cơ sở pháp lý: Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo Bộ luật hình sự năm 1999: khách thể (các quan hệ xã hội bảo đảm thực hiện quyền tự do, dân chủ), mặt khách quan (chủ yếu là hành vi hành động, một số ít không hành động), chủ thể (người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi luật định; một số tội có chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn), mặt chủ quan (lỗi cố ý).
  • Các dấu hiệu định khung hình phạt: Phân tích các tình tiết định khung tăng nặng trong Chương XIII như: phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, gây hậu quả nghiêm trọng.
  • Các hình thức trách nhiệm hình sự: Hình phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn), hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, phạt tiền), các biện pháp tư pháp, quy định miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và xóa án tích.
  • Thực tiễn áp dụng (2006 - tháng 6/2013):
Chỉ số thực tiễn áp dụng (2006 - tháng 6/2013) Số liệu / Nội dung phản ánh trong luận án
Tổng số vụ án điều tra, truy tố, xét xử 1.111 vụ
Tổng số bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự 2.912 bị cáo
Tội danh xảy ra phổ biến nhất Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124); Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 132); Tội đối xử bất bình đẳng đối với phụ nữ (Điều 130)
Đặc điểm khung hình phạt luật định Mức phạt nghiêm khắc nhất là tù có thời hạn, khung hình phạt chủ yếu dưới 7 năm tù
Xu hướng tuyên phạt của Tòa án Thường tuyên mức phạt tù nhẹ hoặc cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ
Giai đoạn so sánh, đối chứng 2000 - 2005
  • Đánh giá hạn chế, vướng mắc: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều trường hợp chưa kịp thời hoặc chưa chính xác; một số hành vi nguy hiểm mới nảy sinh chưa được quy định tội danh; thiếu các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất; hình phạt áp dụng còn nhẹ, chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của tội phạm.

Chương 4: Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp:

  • Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự:
    • Thể chế hóa tinh thần Hiến pháp năm 2013, đổi tên Chương XIII thành "Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân".
    • Mở rộng phạm vi đối tượng bảo vệ từ "công dân" sang "con người / mọi người" đối với các quyền tự do mang tính phổ quát (quyền không bị bắt, giam giữ trái pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn thư tín, điện thoại, điện tín).
    • Sửa đổi, bổ sung dấu hiệu cấu thành và tình tiết định khung tăng nặng của từng tội danh cụ thể (Điều 123, Điều 124, Điều 125...).
    • Hình sự hóa (tội phạm hóa) các hành vi nguy hiểm mới xâm phạm quyền tự do, dân chủ phát sinh trong xã hội hiện đại mà luật hiện hành chưa có căn cứ xử lý.
    • Hoàn thiện hệ thống hình phạt, nâng mức phạt tù và bổ sung các hình phạt bổ sung nhằm bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
    • Ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự về nhóm tội này.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán).
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quyền con người, quyền công dân trong nhân dân.
    • Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tư pháp và các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống và đồng bộ về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học.
  • Xây dựng khái niệm khoa học pháp lý hoàn chỉnh về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân và khái niệm trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này.
  • Phân tích làm rõ các đặc điểm chung và đặc thù của trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm xâm phạm quyền tự do, dân chủ trong mối liên hệ với chính sách hình sự của Nhà nước.
  • Hệ thống hóa quá trình phát triển các quy định pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới.

Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp:

  • Phân tích toàn diện thực trạng áp dụng trách nhiệm hình sự đối với 1.111 vụ án và 2.912 bị cáo trong giai đoạn 2006 - tháng 6/2013 (có so sánh với giai đoạn 2000 - 2005), chỉ ra các vướng mắc thực tế và nguyên nhân.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999 trên cơ sở tiếp thu các nguyên tắc mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền công dân.
  • Kiến nghị các giải pháp thực tiễn nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học Luật hình sự (chế định trách nhiệm hình sự và hình phạt), không đi sâu phân tích toàn diện các quy trình thủ tục tố tụng hình sự, khía cạnh tội phạm học chuyên biệt hoặc các biện pháp xử lý hành chính. Dữ liệu thực tiễn khảo sát giới hạn trong giai đoạn 2006 đến tháng 6/2013 (đối chứng với giai đoạn 2000 - 2005).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, khảo cứu thực tiễn thi hành sau khi Bộ luật hình sự được sửa đổi toàn diện theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (nếu được mở rộng); nghiên cứu bảo vệ quyền con người, quyền tự do dân chủ trên không gian mạng và môi trường công nghệ số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về lý luận trách nhiệm hình sự, lịch sử lập pháp và phương pháp phân tích tội phạm học đối với nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy môn Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), môn Quyền con người và Xã hội học pháp luật.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và các đề xuất điều luật cụ thể phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm tương thích với Hiến pháp năm 2013.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Hỗ trợ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong việc nhận diện đúng cấu thành tội phạm, định tội danh và áp dụng khung hình phạt chính xác, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

  • Tác giả luận án định nghĩa như thế nào về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân? Tác giả định nghĩa: "Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân mà Hiến pháp ghi nhận, được quy định trong Bộ luật hình sự."

  • Trong giai đoạn 2006 đến tháng 6/2013, thực tiễn xét xử nhóm tội này tại Việt Nam ghi nhận số lượng vụ án và bị cáo như thế nào? Theo số liệu thống kê được tác giả tổng hợp trong luận án, từ năm 2006 đến tháng 6/2013, các cơ quan tiến hành tố tụng trên phạm vi cả nước đã điều tra, truy tố, xét xử 1.111 vụ án với 2.912 bị cáo về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.

  • Những tội danh nào thuộc nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ xảy ra nhiều nhất trong thực tiễn xét xử? Các tội phạm xảy ra nhiều nhất gồm: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124); Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 132); và Tội đối xử bất bình đẳng đối với phụ nữ (Điều 130).

  • Đề xuất sửa đổi tên gọi và đối tượng bảo vệ của Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999 xuất phát từ căn cứ nào? Đề xuất này xuất phát từ việc tiếp thu các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 tại Chương II. Hiến pháp năm 2013 đã phân định rõ quyền con người (dành cho mọi cá nhân) và quyền cơ bản của công dân (dành riêng cho công dân Việt Nam). Do đó, luận án kiến nghị đổi tên chương thành "Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân" và mở rộng khách thể bảo vệ đối với các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, thư tín sang mọi cá nhân.

  • Vì sao hình phạt áp dụng đối với nhóm tội này trên thực tế còn bị đánh giá là nhẹ? Nguyên nhân chủ yếu do quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 đối với nhóm tội này có mức hình phạt nghiêm khắc nhất là tù có thời hạn với khung hình phạt luật định chủ yếu dưới 7 năm tù. Do đó, trong thực tiễn xét xử, Tòa án thường tuyên các mức phạt tù thấp, cho hưởng án treo hoặc phạt cải tạo không giam giữ, chưa bảo đảm tính răn đe.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Xuân Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, tổng kết lịch sử lập pháp và đánh giá thực tiễn 1.111 vụ án với 2.912 bị cáo trong giai đoạn 2006 - tháng 6/2013. Dựa trên tinh thần đổi mới của Hiến pháp năm 2013 và kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất các kiến nghị sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.