đặt vấn đề liên minh giữa quốc gia như sau: “trong một thế giới được đặc trưng bởi yếu tô vô chính phủ, hợp tác không phải là bước đi đầu tiên nhăm hướng tới liên minh thân cận. Không cần thiết phải có liên minh hay kẻ thù vĩnh viễn vì đồng minh hôm nay có thé là kẻ thù ngày mai”. Cách nhìn nhận của vị tiến sỹ này có lẽ đi ngược với những lời nói hoa mỹ mà các nhà ngoại giao vẫn thường dùng nhưng nó mang đây tính lý luận rất logic một cách trực diện. Trong xu thế của một thế giới đầy biến động, đầy cạnh tranh, dẫu biết rằng sự cạnh tranh là tiền đề cho sự phát triển nhưng đôi lúc chỉ là “ngu ngốc” và có thê hủy hoại sự phát triển nhân loại băng các cuộc chiến tranh, nhưng tính tự tôn dân tộc luôn thúc day cá nhân ở mỗi quốc gia, các nhà cầm quyền dẫu có phải gạt bỏ một phan tính nhân văn dé đem về lợi ích cho tổ quốc mình.
Liên minh quốc gia đang trở thành một xu thế tất yếu, bởi thông qua khối liên minh đó, thông qua các hiệp định, hiệp thương sẽ đem lại lợi ích kinh tế qua xuất khẩu hàng hoá cũng như sự “đảm bảo” về an ninh quốc gia thông qua tiếng nói cộng quốc. Cùng với sự hình thành của Chui nghia thể chế, vào cuối những năm 80 đầu nhưng năm 90 cũng nỗi lên trường phái Chi nghĩa khu vực mới trong quan hê quôc tê. Do la sư tông hop va bô xung dưa trên cơ SƠ ly luân về tư do hoa thương mai va hôi nhâp khu vưc duoc hình thành tu sau chiên tranh thê giơi thư hai. Khác với khu vưc biệt lập thì Chủ nghĩa khu vực moi không bi gioi han boi nhung rao can tu nhiên ma no la quần thê khu vưc mang tinh tông hop vơi cac môi quan hé xuyên biên giơi, lãnh thồ, văn hoa hay dân tôc, xã hội.
là xã hội có tính mở , tu do va dân chủ, có tổ chức hay cơ chế điều hành chung có kha năng đưa ra quyết sách. đây la cơ sơ ly thuyêt bôsung cho viéc nhin nhân đanh gia về tiên tinh hợp tác và liên khu vực Chủ nghĩa thé chế nhìn nhận ở góc độ nào đó nó nằm trong lòng chủ nghĩa khu vưc, hơp tac khu vưc không chỉ la hop tac song phuong ma con la su hop tac 14 đa phương cua cac thê chê chính tri , và quan hệ giữa các thể chế hay giữa thé chế nào đó với một hay nhiều quốc gia trong khu vực hoặc ngoài khu vực nó sẽ chỉ phôi quan hê trong môt khu vực mơi. Khu vực không ton tại tách biệt giữa các chủ thê mà là quần thể của các mối quan hệ trên các phương diện xuyên biên giới quốc gia — cơ sở cho thúc đây quan hệ. Quan niệm về an ninh Trong ky nguyên toan câu hoa kinh tê vơi sư phat triên như vu bao cua cac nền kinh tê trên thê giơi sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức như cuộc xung đột về các nguồn tài nguyên quý hiểm khi các quốc gia cạnh tranh nhau dé tìm kiếm các nguyên liệu thô.
Các tô chức quốc tế bị khủng hoảng do cac cuôc khung hoang tai chính tiền tệ gây nên , khủng bố vẫn là một sự đe doa vơi tat ca các nước trên thé gioi và mối lo ngại về cuộc xung đột hạt nhân trong nhưng thập kỷ tới , VIỆC SỬ dụng vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ xảy ra trong tương lai, do sự phô biến công nghệ hạt nhân. đoi hoi cac nuoc cung nhau hop tac dé giai quyét hơn la đôi kháng, cạnh tranh nhau về quyền lực chính trị bơi muôn phat triên thi cần co môt môi trương ôn đinh , do đo thuât ngư An ninh Chung ra doi. Viéc thưc hiên dưa trên sư cân bằng về luc luo ng dua trén suc manh lién minh quân su hay tôn sung , ủng hộ một trung tâm quyền lực nào đó sẽ không mang lại một nền an ninh chung. Theo đo cac nuoc truoc hêt phai tôn trong chu quyền _, cùng nhau tìm cơ chế hợp tác , tang điêm đồng thuan, thu nho nhưng bat đồng , xung dot đề đồng thuân cung phat triền.
Muôn vây ngoài việc các nước phải hài hòa duoc yêu tô an ninh bên trong lần bên ngoai _, cần phai co sư tương tac giup do ian nhau giữa cac nươc cho du cac nuoc co chê đô chính tri, trình độ phát triển khác nhau, ở các khu vực địa lý khác nhau vẫn có thể hợp tác an ninh với nhau trong đó can phai c hú ý tới những nước láng g iềng xung quanh , có sự gần gũi nhau về mặt dia ly se la môi quan hê quan tâm hang đầu đề có sức mạnh hạn chế hay chống lại 15 sư can thiép hay suc ep tư bên ngoai đam bao co môt môi trương ôn đinh phat trién cho khu vưc va trên thê giơi. Cơ sở thực tiên 1. Những vấn đề lịch sử Chiến tranh vua kìm hãm , vưa thúc day quan hệ hai bên, không thể giải quyết các vấn đề bằng chiến tranh trong bối cảnh hiện nay, mà phải qua hợp tác đàm phán. Tuy nhiên nhưng vân đề trong lich sư da dé Jai nhưng m6 ¡ nghi ky dân tôc sinh ra tư nhưng cuôc chiên tranh giua cac nuoc vơi nhau trược day.
Đặc biệt là trong quan hệNhât Ban và Trung Quôc van đề lich su da it nhiều tao ra tâm ly e ngại đề phòng lẫn nhau hạn chế sự cởi nở và có nhiều hạn chế trong hợp tác lẫn nhau Hiên nay vân đề nhân thưc lich su duoc coi la cơ sơ cho sư phat trién cua quan hé Trung — Nhat da gây nên tranh cai giưa hai nuoc tư nhiều năm nay. Ngươi dân Trung Quôc không bao giơ quên nhưng tôi ac ma ngươi Nhat da gâyra trong quá khứ, con Nhat Ban không nhưng không thua nhân về nhưng hanh vi tôi ac cua họ cho người dân Trung Quôc mà thậm chí các thế lực cực hữu của Nhật còn phủ nhân, bóp méo sự thật về những hành vi sai trải của họ. Môi quan hê Trung Quôc và Nhat Ban luôn rơi vao trang thai căng thăng tron g vân đề lich su đề |ai như viéc Nhât Ban phát hành sách giáo khoa lịch sử họ đã sửa từ “xâm lượ c” thanh “tiên vao Trung Quéc” va Nhat giai thic h rang đề chong lai phương Tây họ không thé không tiên hanh ch iên tranh “giai phong Châu A”. Hay viéc vao ngay 15 tháng 8 hang năm, không ït nhưng quan chưc cua Nhât thuôc phe c ánh hữu đến viếng đền Yasukuni nơi thơ khoang 2,5 triêu ngươi chét trân trong đoco 14 tôi pham trong chiên tranh thê giơi lần thư hai.
Đặc biệt là trong số các Thủ tướng của Nhật có Thủ tương Koizumi tu khi lên nhân chưc đa co 5 lần đên viêng đền thơ Yasukumi hang năm va mac du lan song phan đô ¡cua Trung Quôc và một sô nuoc ơ Châu A rat mạnh mẽ về những hành động này nhưng ông Koizumi vẫn tuyên bố vẫn sẽ đến 16 viêng tai đền thơ mac dù ông nói những chuyến đến thăm không nhằm mục đích ca ngơi chiên tranh trong qua khư va bac bo moi sư chỉ trích tư phía Trung Quéc. Nhung van đề trong lich sư anh hương rat lon trong quan hé chính tri giưa Trung Quôc và Nhât Ban. Có những lúc quan hệ tưởng trừng như làm đóng băng tình cảm giữa hai nước và nó gây nên hệ quả về mặt lâu dài trong quan hé hai nươc thâm chi môt sô nha phân tích cho răng vân đề đền Yasukumi đang dién biên t heo chiều hương long tư tôn dân tôc „ da kich đông dén tinh camtheo Chủ nghĩa Dân tôc va lam cho vân đề kho giai quyêt. Như vây, vân đề nhân thuc trong lich su da va đang la tro ngai trong quan hê chính trị, ngoại giao giưa Trung Quôc — Nhat Ban.
Truoc xu hương toan cầu hoa kinh tê mac du trong quan hê chính tri hai nược luc “Nong” luc “Lanh” thi xu hương hop tac vân la tâtyêu , năm 1978 hai nuoc da ky Hiép ươc Hoa bình hữu nghị Trung — Nhat, năm 1972 và 1998 là Tuyên bố chung. Giữa hai nươc đa nêu nên viéc hai nuoc xây dưng hoa binh hưu nghi , bình thường hóa quan hệ ngoại giao, phát triển quan hệ láng riềng hữu nghị phù hợp với lợi ích của nhân dânha i nuoc. Đồng thời cũng đóng góp cho sự hòa hoãn cục diện căng thắng 6 Châu A và bảo vệ hòa bình thé giới, thúc đây phát triển trong thé kỷ XXI. Toàn cầu hoá kinh tế và nhu cau phát triển hai bên Chiên tranh lanh kêt thuc , thê giơi hai cưc bị pha vơ, toàn cầu hóa đã làm cho trât tư thê giơi theo hương đacưc.
Khi chê đô Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan vơ, thì Mỹ lại có ưu thế vượt trội và có tham vọng làm bá chủ thế giới , các nước dang phát triển cố gắng vươn lên dé có cơ hội cất cánh. Toàn cầu hóa kinh tê là một xu thé tất yêu của lịch sử _, nó gây tác động tới mọi mặt của thế giới. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắt nguồn từ những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo ra ngoài biên giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyên quôc gia, các ngân hàng, các tô chức quôc tê, sự trao đôi công nghệ, 17 sự phát triển gắn với hiện đại hoá. Toàn cầu hoá kinh tế là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuất cao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thị trường thế giới.
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thông kém phát triển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không có thi trường mang ý nghĩa hiện đại. Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thi nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bang những sản pham đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phô biến, sự phụ thuộc phô biến giữa các dân tộc”. Luận điểm này của C.