Chương 1: BÓI CẢNH VÀ QUYÉT ĐỊNH MỞ RỘNG HÀ NỘI 01/08/2008 1.1 Lịch sử Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ: *,. Thành Dai La ở vào chính giữa đất trời, có cai thê rồng cuộn, hô ngồi, đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Nam lại tiện thế nhìn sông tựa núi. Dat ấy rộng mà bằng phẳng, cao ráo mà sáng sia; dân cw không phải cái nạn toi tăm, ẩm thấp, muôn vật cực kỳ giàu thịnh đông vui. Xem khắp nưóc Việt, đó là đất danh thang, thật là đô hội trọng yếu để bốn phương xum họp và là đô thành bậc nhất đáng mặt làm kinh sw cho muôn đời”.
Bài chiếu của vua Ly Thái Tổ (Lý Công Uan) năm 1010, vị vua đầu tiên của nha Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới với tên gọi Thăng Long có đoạn nói về vị thế của Hà Nội và từ đó đến nay, lịch su đã trao cho nơi này vi trí chính trị đặc thu mà không nơi nào có được. Hà Nội thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyên trị vì, kinh đô được chuyền về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.
Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay. Có những cách hiểu khác khác nhau về tên gọi Hà Nội, theo cắt nghĩa tiếng Hán, Hà Nội có nghĩa là phía trong con sông, được giải thích rằng: năm 1831 dưới thời 8 vua Minh Mạng thứ 12, vị vua này tiễn hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc, chia cả nước làm 12 tỉnh trong đó có tỉnh Hà Nội. Tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội (Hà Nội trước khi mở rộng năm 2008), nửa chính đông tỉnh Hà Tây (tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam.
Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nam giữa sông Hồng va sông Day. Lại có người cho rang chữ Ha Nội là lay từ câu trong sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân wv Hà Đông, chuyển kỳ tức Hà Nội ” (nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử (thế ky III tr.CN) phía bắc sông Hoàng gọi là dat Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc.
Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc — Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiém Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông (dựa vào tên Hà Nội đã có từ trước )' VỊ trí địa lý của Hà Nội là một trong những cơ sở để bao đời nay, Hà Nội vẫn được chọn là nơi lý tưởng đề định đô của Việt Nam. Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư điện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hong và chi lưu các con sông khác.
Trải qua quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước với bao thăng trầm và biến động nhưng những phẩm chất tốt đẹp và giá trị tỉnh thần bền vững vẫn in đậm trong lối sông của người Thăng Long - Hà Nội. Người dân các vùng của đât nước đưa nghê ' Theo “Hồi Đáp — 1000 năm Thăng Long — Hà Nội” — Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc thủ công về Hà Nội, tạo thành 36 phố phường sam uất. Chính vì Hà Nội là nơi hội tụ và đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc, nên vùng đất và con người Thăng Long cũng là nơi có tinh thần ham học và quý trọng trí thức. Do sống trong môi trường của đô thành, lại có học van cao nên người Hà Nội cảm nhận được vẻ đẹp từ thiên nhiên, cảnh quan môi trường, kiến trúc nghệ thuật, thích thưởng ngoạn thiên nhiên đẹp, những bức tranh đẹp.
Những yếu té đó đã tạo lên tài sản vô giá cho dân tộc còn hiện hữu và lưu truyền giá trị đến tận ngày nay và mai sau, đó chính là nền tảng phát triển ngành du lịch quốc tế trong xu hương hội nhập quốc tế của thời hiện đại. Nói đên vẻ đẹp của người Hà Nội là nói đên nêp sông thanh lịch. Người Hà Nội lich sự, tinh tê trong cách ứng xử, giao tiêp, xử ly các môi quan hệ một cách mém mại, uyên chuyên mà hiệu quả cao. Sự thanh lịch của người Hà Nội được thê hiện qua từng lời nói.
Cái thanh, cái đẹp của tiếng nói Hà Nội ở chỗ chuẩn xác, phát âm đúng, mẫu mực cho cả nước. Nét thanh lịch của người Hà Nội còn được thê hiện ở trang phục. Trong trang phục của cả nam và nữ, của người già và trẻ em. luôn giữ được vẻ trang nhã, hải hòa, giản di, phù hợp với vi thê xã hội và nghê nghiệp của minh.
Trang phục áo dài của thanh nữ Hà Nội vẫn là nét đẹp tiêu biêu của người phụ nữ Việt Nam. Trong ăn uống, người Hà Nội thể hiện nét thanh lịch ở trình độ thâm mỹ cao, sự tỉnh tế trong công việc chế biến thức ăn. Chính chất sành điệu trong ăn uống ấy mà người Hà Nội đã sáng tạo nhiều món ăn nổi tiếng trở thành đặc sản Hà thành như: phở, bún thang, bún ốc, chả cá, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Hồ Tây. Với những nét đặc sắc trong lịch sử, địa lý, văn hóa, con người.
như vậy, Hà Nội thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các giá trị văn hóa cho bao thế hệ người Việt Nam. Viết về vị thé địa — văn hóa của Hà Nội giáo sư Trần Quốc Vượng đã có bai viết rất sâu sắc trong “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” khi ông cho răng Huế, Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô của cả nước hay của một miễn và ở nửa sau thế kỷ XX trở thành trung tâm của từng vùng 10 miền của nước Việt Nam. Tuy nhiên, không vi thé dé nói rang Huế là Kinh đô của Việt Nam cho đến 1945. Ngay ở nửa cuối thế kỷ XIX, một tác giả Pháp đã viết: “Hà Nội vẫn là trái tim của cả nước” cho dù Huế đã là Kinh đô Việt Nam từ 1802.
Và dưới thời thuộc Pháp, Hà Nội (chứ không phải Huế, Sài Gòn) là Thủ đô của cả Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp - Indochine francaise, bao gồm Bắc kỳ, Trung kỳ (An Nam), Nam kỳ, Lào, Cao Miên). Tới 1945, với Cách mạng tháng Tám, Hà Nội lại trở thành Thủ đô của cả nước Việt Nam. Rồi tới mốc 1975 lịch sử. Rõ rang với vi trí địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa của Hà Nội, qua bao biến déi của lịch sử, vị thé đế đô của mảnh đất rồng thiêng Thăng Long — Hà Nội vẫn giữ nguyên giá trị.
Không phải ngẫu nhiên Thực dân Pháp chọn Hà Nội làm Thủ đô của cả Đông Pháp mặc dù có những giai đoạn tên gọi Thăng Long bị biến cải chữ (Hán) “Long” là “rồng” thành “Long “là sự hưng thịnh” để xoá bỏ danh tính gắn với vương triều; rồi hạ thấp tường thành; rồi phá bỏ thành quách cũ để xây thành Vauban theo kiểu Pháp làm tỉnh thành Hà Nội. và có những giai đoạn Thủ đô của Đông Pháp từng đặt tại Sài Gòn hay Đà Lạt. VỊ trí địa lý của Hà Nội so với các địa bàn khác trong nước như Trung Kỳ hay Nam kỳ (thời Pháp thuộc) rõ ràng có những lợi thế vượt trội hơn cả cho việc lập đô mà lịch sử đã bao đời minh chứng. Khi so sánh với các nước trong khối Đông Dương, rõ ràng Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung có những vi trí địa chính trị thuận lợi hơn hăn.
Việt Nam đóng vai trò như là cửa ngõ chính của Trung Quốc thông xuống phía Nam, đặc biệt Việt Nam là cửa ngõ của Lào và Campuchia ra biển — là yếu tố quan trọng quyết định đến bối cảnh chính trị và kinh tế của Việt Nam và là tài nguyên địa chính trị vô giá cả trong quá khứ và hiện tại. Trong khối Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung, Việt Nam là nước có lợi thế nhất về mặt địa lý trong việc khống chế biển Đông vì Việt Nam là nước tiếp giáp nhiều nhất và chiến lược nhất với Trung Quốc, lại có lịch sử lâu dài nhất và kinh nghiệm dày dạn nhất trong đối xử với Trung Quốc. Do đó, các nước lớn 11 đêu muôn qua Việt Nam đóng một vai trò then chôt trong việc bảo dam an ninh biển Đông cho lợi ich của họ. Đây là những lý do thuyết phục dé Thực dan Pháp lựa chọn xây dựng Thủ đô của Đông Dương tại Việt Nam chứ không phải Lào hay Cao Miên, Trong giai đoạn đấu tranh chống Pháp giải phóng dân tộc, mặc dù Bác Hồ sinh ra từ mảnh đất Nghệ An (1890), lớn lên theo cha vào Huế (1905) rồi đi tiếp về phương Nam, đến thành phố Sài Gòn (1911) để rồi từ đó xuất dương.
Bôn ba khắp năm châu bốn biến, 30 năm sau con người ấy trở về với Tổ quốc từ một cửa ngõ địa đầu phía Bắc, Cao Bằng (1941). Con người ấy dường như chưa một lần đặt chân lên Hà Nội. Hơn thé nữa nếu tính từ khi nhà Nguyễn lập triều, Vua Gia Long đã dời đô từ Thăng Long vào Huế (1802) thì Hà Nội đã không còn là kinh đô từ ngót một thế kỷ rưỡi. Vậy mà tại Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, người đã đưa ra quyết định sáng suốt chọn Hà Nội làm Thủ đô của nước Việt Nam độc lập, đã nối lại mạch nghiệp xưa của kinh đô Thăng Long - Đông Đô.
Tại sao Bác Hồ lại có lựa chọn như vậy?