chương I đã giới thiệu những vấn đề chung về bài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi và những kết quả kì vọng đạt được. Các phần tiếp theo của bài nghiên cứu được bố cục như sau: Chương II – Tổng quan các nghiên cứu trước đây. 123doc 6 Phần này sẽ trình bày tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước về chủ đề tương tự. Qua đó sẽ có được một góc nhìn tổng quan và có sự so sánh về kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu khác nhau với mô hình, dữ liệu khác biệt.
Chương III- Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày chi tiết cách dữ liệu được chọn lọc, thu thập, tính toán và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong mô hình để trả lời cho các câu hỏi được đặt ra. Chương IV- Kết quả nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày các kết quả định lượng từ việc hồi quy dữ liệu, qua đó thấy được mức độ ảnh hưởng cũng như mối quan hệ giữa thay đổi giá dầu thế giới và TSSL chứng khoán niêm yết tại Việt Nam Chương V sẽ tổng kết lại bài nghiên cứu, các kết quả và khuyến nghị được rút ra từ bài nghiên cứu.
123doc 7 CHƯƠNG II – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Đề tài về giá dầu hiện vẫn là một trong các chủ đề nghiên cứu chính của các học giả kinh tế trên toàn cầu. Trong mối tương quan với TTCK, các lý thuyết kinh tế học cho thấy mối tương quan nghịch chiều từ sự gia tăng của giá dầu lên thành quả của thị trường. Điều đó bắt nguồn từ việc giá dầu tăng sẽ dẫn đến sự suy giảm trong tổng sản phẩm quốc nội GDP của các quốc gia, kéo theo tình trạng kinh doanh kém của các công ty bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ thay đổi giá dầu. Thu nhập giảm, vì sự gia tăng chi phí đầu vào là xăng dầu, và hiển nhiên là TSSL chứng khoán cũng sẽ giảm theo tác động dây chuyền đó.
Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu về tác động từ giá dầu tăng đến thành quả của TTCK. Nghiên cứu của Driesprong, Jacobsen và Maat (2008) tại các TTCK phát triển trong thời kỳ 30 năm với dữ liệu được thu thập theo tháng. Kết quả thực nghiệm cho thấy tồn tại khả năng dự báo từ sự thay đổi giá dầu lên TSSL chứng khoán tại 12 trên 18 quốc gia cũng như chỉ số chứng khoán toàn cầu và mối tương quan này là nghịch chiều. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy tại các quốc đang phát triển nhưng với giai đoạn nghiên cứu ngắn hơn.
Jones và Kaul (1996) kiểm tra liệu phản ứng của TTCK đến cú sốc giá dầu có thể được giải thích bởi sự thay đổi trong dòng tiền thực/hoặc TSSL kỳ vọng hiện tại và tương lai hay không. Nghiên cứu được thực hiện tại 4 quốc gia gồm Mỹ, Canada, Nhật và Anh trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Kết quả cho thấy tác động của các cú sốc giá dầu đến TTCK Mỹ và Canada có thể chỉ được giải thích bởi ảnh hưởng lên dòng tiền thực. Trái lại, tại Anh và Nhật, tác động từ giá dầu ảnh hưởng lên TSSL chứng khoán được lý giải bởi cả thay đổi trong dòng tiền thực và TSSL kỳ vọng các chứng khoán.
123doc 8 Miller và Ratti (2009) phân tích mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu thô thế giới và các TTCK quốc tế giai đoạn từ tháng 01 năm 1977 đến tháng 03 năm 2008 sử dụng mô hình VECM có điều kiện. Các tác giả tìm thấy sự tồn tại trong mối quan hệ dài hạn này tại 6 quốc gia OECD từ tháng 01/1971 đến tháng 05/1980 và từ tháng 02/1988 đến tháng 09/1999, các chỉ số chứng khoán phản ứng tiêu cực trước sự gia tăng giá dầu trong dài hạn. Giai đoạn từ tháng 06/1980 đến 01/1988, kết quả nghiên cứu lại cho thấy không tồn tại mối quan hệ nói trên. Broadstock và Filis (2014) nghiên cứu tương quan thay đổi theo thời gian giữa các cú sốc giá dầu và TSSL của TTCK, sử dụng mô hình Scalar-BAKK tại hai quốc gia đại diện cho các quốc gia đã phát triển và đang phát triển là Mỹ và Trung Quốc.
Giai đoạn nghiên cứu từ 1995 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất, tương quan giữa các cú sốc giá dầu và TSSL chứng khoán là chắc chắn và thay đổi theo thời gian. Thứ hai, cú sốc giá dầu với hình thức khác nhau sẽ tác động không đồng nhất đến TSSL TTCK. Thứ ba, mối tương quan này thay đổi giữa các ngành khác nhau.
Và cuối cùng là mối tương quan này tại Trung Quốc không rõ ràng và chắc chắn khi so sánh với Mỹ. Moya-Martínez, Ferrer-Lapeña và Escribano-Sotos (2014) nghiên cứu độ nhạy cảm của TTCK Tây Ban Nha tại mức độ từng ngành đối với những thay đổi của giá dầu trong giai đoạn từ năm 1993-2010. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng mức độ tác động của rủi ro giá dầu lên các ngành tại Tây Ban Nha vẫn còn hạn chế. Mối tương quan này rất yếu trong những năm 1990, giai đoạn ổn định và giá dầu thấp.
Thay vào đó, mối liên kết này gia tăng trong những năm 2000, và là mối tương quan cùng chiều. 123doc 9 Trong một nghiên cứu khác của Lee, Yang và Huang (2012) tại các quốc gia G7 từ tháng 01 năm 1991 đến tháng 05 năm 2009 trên các chỉ số chứng khoán ngành và giá dầu lại không cho thấy mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê. Những thay đổi trong TSSL chứng khoán, tuy nhiên, lại dẫn đến thay đổi trong giá dầu tại Đức, Anh và Mỹ. Trong ngắn hạn, tồn tại mối quan hệ nhân quả nghịch chiều giữa thay đổi giá dầu và chỉ số chứng khoán ngành: 4 trên 7 ngành bị tác động bởi thay đổi giá dầu tại Đức, 2 ngành tại Mỹ và 1 ngành tại Pháp.
Đặc biệt, TSSL chứng khoán ngành công nghệ thông tin và tiêu dùng bị tác động mạnh nhất bởi các cú sốc giá dầu, theo sau bởi khu vực tài chính, dịch vụ công ích và vận tải. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng tìm thấy bằng chứng về việc thay đổi trong TSSL chứng khoán sẽ dẫn tới thay đổi giá dầu tại 8 trên 9 ngành tại Đức, nhiều nhất trong các quốc gia G7 và theo sau lần lượt là Anh, Ý, Pháp, Canada và Mỹ. Mối quan hệ nhân quả như trên không tồn tại ở Nhật Bản. Arouri (2011) kiểm tra phản ứng của các TTCK tại Châu Âu đối với thay đổi của giá dầu.
Kết quả kiểm định thực nghiệm chỉ ra liên kết mạnh giữa thay đổi giá dầu và TTCK tại hầu hết các khu vực của Châu Âu. Tuy nhiên, bản chất và mức độ phản ứng của TSSL chứng khoán đối với các cú sốc giá dầu thay đổi giữa các khu vực. Ngoài ra, tác giả cũng tìm thấy bằng chứng về sự bất đối xứng từ phản ứng của TSSL chứng khoán đối với biến động của giá dầu. Zhu, Li và Li (2014) nghiên cứu mối quan hệ năng động giữa giá dầu thô và TTCK tại 10 quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương giai đoạn từ ngày 04 tháng 01 năm 2000 đến 30 tháng 03 năm 2012.
Kết quả nghiên cứu mang lại bằng chứng về tương quan không đáng kể giữa giá dầu thô và TSSL các TTCK khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Xem xét một cách tổng quát các nghiên cứu trên, có thể thấy là về mặt thực tế, tác động do thay đổi từ giá dầu lên các TTCK vẫn chưa thật sự rõ ràng. Trong khi các lý thuyết kinh tế dự báo về ảnh hưởng tiêu cực do giá dầu tăng thì kiểm định thực nghiệm mang 123doc 10 lại những kết quả trái chiều hoặc mối tương quan trên là hỗn hợp, nghĩa là tác động từ các cú sốc giá dầu đến TTCK có thể theo cả chiều hướng tiêu cực hoặc tích cực. Trong khi các nghiên cứu trên kiểm định phản ứng tổng thể của TTCK đối với giá dầu thay đổi thông qua các chỉ số đại diện toàn thị trường tại mỗi quốc gia, hoặc kiểm định tại mức độ ngành thì những nghiên cứu sau đây tiến hành kiểm định tại từng công ty độc lập, mà kết quả sẽ phụ thuộc vào đặc điểm của từng doanh nghiệp hơn là tổng thể toàn bộ thị trường.
Nghiên cứu của Narayan và Sharma (2011) kiểm định quan hệ giữa giá dầu và TSSL chứng khoán tại 560 công ty niêm yết trên NYSE giai đoạn từ ngày 05 tháng 01 năm 2000 đến 31 tháng 12 năm 2008. Các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy giá dầu tác động lên TSSL chứng khoán thay đổi tùy thuộc vào ngành công ty đang hoạt động. Sự khác biệt từ thay đổi giá dầu lên TSSL các chứng khoán cũng thay đổi tùy thuộc vào qui mô của công ty. Phan, Sharma và Narayan (2015) trong một nghiên cứu về sự khác biệt từ tác động của giá dầu lên chứng khoán của các công ty sản xuất và tiêu thụ dầu thô cho thấy TSSL chứng khoán các công ty sản xuất dầu có tương quan cùng chiều với thay đổi giá dầu, bất kể giá dầu tăng hay giảm.
Về ảnh hưởng của biến động giá dầu lên các công ty tiêu thụ dầu cho thấy, chỉ một số các ngành bị ảnh hưởng thật sự, nghĩa là sự ảnh hưởng này không đồng nhất. Ngoài ra, các tác giả cũng phát minh một vài chiến lược giao dịch đơn giản và nhận thấy rằng, các nhà đầu tư vào các công ty thuộc ngành sản xuất dầu có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn có ý nghĩa về mặt thống kê so với các công ty thuộc ngành tiêu thụ dầu. Một nhánh nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa giá dầu và TTCK tập trung vào tìm hiểu độ trễ trong mối tương quan này, hay nói cách khác là phản ứng của TTCK đối với thông tin giá dầu thay đổi sẽ mất bao lâu. 123doc 11 Có ba lý do chính giải thích tại sao tồn tại mối tương quan trễ này : Thứ nhất, thông tin từ giá dầu thay đổi sẽ làm cho TSSL kỳ vọng của các chứng khoán có sự thay đổi, tuy nhiên TTCK không hoàn hảo nên sẽ có độ trễ nhất định từ phản ứng của các nhà đầu tư.
Thứ hai là giả thuyết về sự phản ứng thận trọng (underreaction) của các nhà đầu tư. Giả thuyết này cho rằng trong ngắn hạn các nhà đầu tư phản ứng thận trọng đối với thông tin tác động đến chứng khoán, trong khi trong dài hạn họ lại phản ứng quá mức (overreaction) đối với các thông tin tương tự.