Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và thực nghiệm Chương 3: Phương pháp thực hiện nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận 123doc 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM Nội dung của chương 2 sẽ đi sâu trình bày về khung lý thuyết về thuyết ngang bằng sức mua và mô hình Mundel – Fleming làm nền tảng phân tích cơ chề truyền dẫn chính sách trước các cú sốc thương mại và tài chính từ Mỹ đến các quốc gia Châu Á. Ngoài ra, phần còn lại rất quan trọng của chương là tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã thực hiện về cơ chế truyền dẫn các cú sốc tài chính và thương mại toàn cầu.1 Một số thuật ngữ Cơ chế truyền dẫn chính sách mô tả quá trình mà chính sách đó ảnh hưởng như thế nào đến các biến số vĩ mô trọng yếu của nền kinh tế như tổng tiêu dùng, giá cả, đầu tư và sản xuất. Một cuộc khủng hoảng toàn cầu có thể lan truyền thông qua hai mối liên kết chính: liên kết thương mại và liên kết tài chính (Shugo Yamamoto, 2013). Sự lan tỏa này diễn ra sâu rộng ở các nền kinh tế Châu Á phát triển mạnh có mối thương mại và hội nhập tài chính sâu rộng với Mỹ.
Ở mối liên kết thương mại: Khi cú sốc thương mại xảy ra, nhu cầu đối với hàng nhập khẩu giảm, xuất khẩu của nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Sự suy thoái trong cán cân thương mại sẽ làm suy yếu tăng trưởng kinh tế, và nếu sự suy thoái là lớn hơn so với mức độ đầu tư bên ngoài, nhà đầu tư có thể đánh giá lại rủi ro đầu tư. Trong kịch bản khác, một nền kinh tế mất khả năng cạnh tranh khi đồng tiền của một đối tác thương mại lớn mất giá. Các nhà chức trách có thể cố gắng bảo vệ khả năng cạnh tranh của nền kinh tế bằng cách giảm giá đồng tiền của mình.
Nếu các nhà đầu tư thấy trước quyết định này, họ sẽ cắt giảm nhu cầu đối với tài sản, điều này dẫn đến một sự suy giảm trong tiền tệ, giảm giá tài sản và vốn, có thể gây ra một cuộc khủng hoảng. Glick và Rose (1998) cho thấy liên kết thương mại giúp giải thích mối tương quan giữa các nước trong áp lực thị trường khi xảy ra khủng hoảng, khi kiểm soát các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Kaminsky và Reinhart (1999) đã tìm thấy rằng việc chia sẻ một khối thương mại chung sẽ làm cho một nền kinh tế đặc biệt dễ bị lây lan từ một nền kinh tế thành viên. 123doc 5 Mối liên kết tài chính: Trong khi mối liên kết thương mại có thể giúp giải thích truyền dẫn khủng hoảng giữa các nền kinh tế có liên hệ chặt chẽ, vẫn có một số trường hợp truyền dẫn khủng hoảng chưa được giải thích, chẳng hạn như giữa Nga và Brazil vào cuối những năm 1990, khi hai nước không có các liên kết thương mại đáng kể.
Lúc này, truyền dẫn khủng hoảng có thể giải thích rõ hơn thông qua mối liên kết tài chính. Một cuộc khủng hoảng tài chính trong một nền kinh tế có thể dẫn đến giảm tín dụng thương mại, đầu tư từ nước ngoài và các luồng vốn khác. Mức độ hội nhập thị trường tài chính toàn cầu của quốc qua quyết định khả năng hấp thụ khủng hoảng của nền kinh tế. Theo (Shugo Yamamoto, 2013), liên kết tài chính bao gồm các yếu tố sau: § Nợ chung: Một cú sốc có thể bắt đầu từ một ngân hàng quốc tế sau đó lan tỏa ra các khu vực kinh tế khác do sự suy giảm cho vay của ngân hàng.
Điều này đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng hiện nay do nhiều ngân hàng ở các nước phát triển đột ngột giảm cho vay đối với nền kinh tế thị trường mới nổi (Kaminsky và Reinhart, 2000). § Chuỗi cho vay liên kết: Cuộc khủng hoảng có thể truyền dẫn mạnh hơn đến các nền kinh tế khi tồn tại một chuỗi cho vay liên kết. Theo mô hình domino này, ví dụ, nếu ngân hàng A vay mượn từ ngân hàng B ở một nước khác, và Ngân hàng B vay mượn từ ngân hàng C ở một nước khác. Nếu khủng hoảng xảy ra ở nước ngân hàng A thì hiển nhiên khủng hoảng sẽ tác động ngân hàng B, sau đó tác động ngân hàng C.
Tương tự như vậy, một cú sốc tại quốc gia A có thể làm Ngân hàng A thiệt hại kinh tế tại đất nước này. Nếu ngân hàng A có tiền gửi ở một ngân hàng B tại một quốc gia khác, ngân hàng A có thể rút tiền gửi từ ngân hàng B, gây thiệt hại cho ngân hàng B. Ngân hàng B có thể lần lượt thay đổi danh mục cho vay của mình, điều này có thể ảnh hưởng đến kinh tế trong nước. Cả hai ví dụ, kết quả cho thấy những cú sốc đang được truyền dẫn giữa các quốc gia thông qua một chuỗi các nhà cho vay liên kết với nhau.
123doc 6 § Thay đổi danh mục đầu tư: truyền dẫn khủng hoảng thông qua thị trường tài chính có thể xảy ra do sự thay đổi danh mục đầu tư. Ví dụ, các quỹ đầu tư khi bị thua lỗ trong một thị trường có thể phải thu hẹp quy mô danh mục đầu tư, và điều này dẫn đến nhà đầu tư phải thanh lý cổ phần của họ trong thị trường khác. Một động lực nữa cho thay đổi danh mục đầu tư trên thị trường là bảo hiểm rủi ro chéo thị trường. Lúc này khủng hoảng truyền dẫn thông qua các kênh bảo hiểm rủi ro chéo thị trường vì nhà đầu tư phản ứng với những rủi ro kinh tế vĩ mô.1 Thuyết ngang giá sức mua (PPP) Theo thuyết ngang giá sức mua (PPP), tỷ giá hối đoái danh nghĩa từ đồng tiền của hai quốc gia phải phản ánh sự khác nhau về giá cả của hai nước đó.
Cụ thể, giả sử P là giá của một giỏ hàng ở Việt Nam tính bằng VND, P* là giá của một giỏ hàng ở Mỹ tính bằng USD và E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa (số lượng VND mà một USD có thể mua được). Như vậy 1 USD có thể đổi được E đơn vị VND và có sức mua bằng 1/P*. Để sức mua của một USD ngang nhau ở 2 nước thì 1/P* = E/P hay E =P/P* Logarit hai vế của phương trình này, ta có phần trăm thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa đồng tiền giữa hai quốc gia đúng bằng chênh lệch phần trăm thay đổi của mức giá của hai quốc gia đó. Như vậy, nếu gọi π , π * , Et , Et +1 lần lượt là lạm phát trong nước, lạm phát nước ngoài, tỷ giá hối đoái hiện tại và tỷ giá hối đoái tương lai giữa hai nước thì thuyết PPP có thể diễn tả như sau: Et +1 − Et π −π* = Et Hàm ý then chốt của lý thuyết PPP là tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ thay đổi nếu giá cả thay đổi, những nước có tốc độ lạm phát cao sẽ có xu hướng giảm giá đồng tiền.
Ngoài ra, chúng ta nên lưu ý rằng lý thuyết này chỉ nói đến xu hướng chứ không phải cào bằng tuyệt đối các mức giá tương đối. Hàng rào thương mại, nhiều 123doc 7 hàng hóa khó đem ra trao đổi, sở thích của người tiêu dùng thay đổi theo thời gian và chi phí vận chuyển dẫn đến giá cả được phân hóa đáng kể giữa các nước.2 Mô hình Mundell – Fleming Robert Mundell (1960, 1961a, 1961b, 1963) và Marcus Fleming (1961, 1962) đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc tế vào đầu thập niên 1960, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ với mô hình Mundell – Fleming. Cho đến nay, mô hình Mundell – Fleming đã trở thành khung lý thuyết phân tích quan trọng trong các nghiên cứu truyền dẫn quốc tế từ các cú sốc tiền tệ và cú sốc thương mại. Mô hình Mundell – Fleming chính là dạng mở rộng của mô hình IS-LM bằng cách thêm vào ngoại thương và tài chính quốc tế.
Mô hình Mundell – Fleming là mô hình phân tích trong ngắn hạn nên giả thiết đầu tiên giá (P) là biến ngoại sinh và cố định. Điều này cũng có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e) và tỷ giá hối đoái thực (ε) biến thiên theo cùng một tỷ lệ cố định Mô hình này được xây dựng dựa trên giả thiết cho rằng nền kinh tế phân tích là nền kinh tế mở nhỏ, vốn được tự do lưu chuyển giữa các nước với chi phí giao dịch bằng 0 (không có bất kỳ rủi ro nào). Lúc này lãi suất trong nước (r) bằng lãi suất thế giới (r*). Mô hình này cũng giả thiết thêm rằng cung tiền (M) là biến ngoại sinh được kiểm soát hoàn toàn bởi Ngân hàng Trung Ương.1 Thị trường hàng hoá và quan hệ IS* Thị trường hàng hoá sẽ đạt được trạng thái cân bằng khi tổng thu nhập hay tổng chi tiêu thực hiện bằng với tổng chi tiêu dự kiến.
Điều kiện cân bằng được thể hiện bởi phương trình sau đây: − ⎛+ ⎞ ⎛ ⎞ ⎛−⎞ Y = C ⎜ Y − T ⎟ + I ⎜ r* ⎟ + G + NX ⎜ e ⎟ (2.1) ⎝ ⎠ ⎝ ⎠ ⎝ ⎠ Phương trình (2.1) thể hiện thu nhập (Y) bằng tổng của chi tiêu tiêu dùng (C), chi tiêu đầu tư, ( I ) chi mua sắm hàng hoá của chính phủ (G), và xuất khẩu ròng (NX). Trong đó chi tiêu tiêu dùng có quan hệ cùng chiều đối với thu nhập khả dụng (Y-T), chi tiêu đầu tư có quan hệ ngược chiều đối với lãi suất mà trong mô 123doc 8 hình này nó bằng với lãi suất thế giới (r*), xuất khẩu ròng có quan hệ ngược chiều đối với tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e) do giả thiết giá trong nước (P) và giá nước ngoài (P*) cố định. Đường IS* thể hiện toàn bộ mối liên kết giữa thu nhập thực (Y) và tỷ giá (e) sao cho thị trường hàng hoá đạt được ở trạng thái cân bằng. Dựa vào phương trình cân bằng (2.1), khi giá đồng bản tệ (e) tăng, xuất khẩu ròng (NX) giảm kéo theo tổng chi tiêu dự kiến và tổng thu nhập cũng giảm (Y).
Điều này cho thấy e và Y có quan hệ ngược chiều với nhau. Mối qua hệ này cũng dễ dàng nhận ra thông qua việc xác định độ dốc độ âm của đường IS* từ phương trình cân bằng (2.1) de 1 − mpc là = <0 dY dNX / de 2.2 Thị trường tiền tệ và quan hệ LM Thị trường tiền tệ đạt được trạng thái cân bằng khi cung tiền thực bằng với cầu tiền thực.